Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2011

Một cách hiểu bài ca dao thằng Bờm (Đỗ Minh Tuấn)

Bài ca dao "Thằng Bờm" lâu nay vẫn được giới nghiên cứu văn học và tiếp cận từ góc nhìn quan hệ trao đổi vật thể không ngang giá để đi đến nhận xét về tính gàn dở hay tâm lý thiết thực, thiển cận của Bờm - đại diện cho con người tiểu nông. Chúng tôi cho rằng góc nhìn này là dễ dãi và chưa thỏa đáng vì nó dừng lại ở bên mặt sự vật và hiện tượng, chưa cho phép ta khám phá những đặc trưng văn hóa mang tính bản sắc trong thái độ của Bờm và của Phú ông. Trong bài viết này, chúng tôi thử đề xuất một cách nhìn mới, một cách đánh giá khác về bản chất văn hóa của cuộc thương lượng thú vị này.

I - Cái quạt mo - một siêu giá trị

Khi nghe nói đến "Cái quạt mo", ta thường nghĩ ngay đến giá trị sử dụng bé nhỏ của nó, bé đến mức gần như vô giá trị. Vô giá trị vì nó sẵn quanh ta trong môi trường xã hội nông nghiệp, nó là vật phế thải của thiên nhiên mà người nghèo đến đâu cũng có. Vì thế, khi Phú ông đem những vật có giá trị sử dụng lớn như "ba bò chín trâu, ao sâu cá mè, một bè gỗ lim",v.v ra đổi, ta thấy phi lý buồn cười. Ta cười là bởi vì ta chỉ nhìn cái quạt mo của Bờm và trâu, bò, gỗ, cá... của Phú ông như những giá trị sử dụng có thể cân, đo, đong, đếm và sử dụng vào sản xuất hay sinh hoa.t. Nhưng nếu như ta nhìn những thứ này như những đối tượng văn hóa - những kỷ vật, những biểu trưng... thì ta sẽ thấy đồng cảm với Bờm trong sự kiên định giữ lấy cái quạt mo, giữ bằng mọi giá.

Thực ra thì cuộc trao đổi có vẻ phi lý và hài hước đã và đang diễn ra trên thị trường văn hóa phương Tây. Chúng ta chẳng bật cười khi thấy người ta đấu giá trả đến mấy triệu đô-la để mua một cái khuy áo hay một kỷ vật của danh hài nào đó? Ta bật cười vì ta còn mang cái nhìn thực dụng tiểu nông, chưa hiểu "siêu giá trị" của cái sản phẩm văn hóa và chưa hiểu "siêu lợi nhuận" của ngành kinh doanh văn hóa. Các nhà tỷ phú chẳng dại gì ném tiền qua cửa sổ. Họ bỏ tiền ra để mua một kỷ vật của bác học Einstein hay Công nương Diana nếu không phải để nâng cấp bộ sưu tập hay bảo tàng của mình thì cũng để nâng cấp văn hóa và quyền lực đầu tư của mình nhằm tới một cái đích vô giá. Phú ông trong bài ca dao "Thằng Bờm" cũng vậy thôi - ông ta tìm mọi cách mua cho được "cái quạt mo" không phải vì ngớ ngẩn, hay tham lam mù quáng như nhiều người đã phân tích, mà vì hắn muốn sở hữu cái quạt mo - biểu tượng của nhân vật Bờm, bản ngã văn hóa của Bờm. Bài ca dao chỉ nói "Thằng Bờm có cái quạt mo" không nói nguồn gốc và tính chất của cái quạt mo này. Nhưng không loại trừ cái quạt mo là một kỷ vật thiêng liêng của cha ông để lại, hay một chiến lợi phẩm từ sự thất bại nhục nhã của Phú ông trong thuở hàn vi mà Phú ông muốn phi tang. Và dù cho cái quạt mo ấy chỉ là một vật dụng bình thường mà Bờm quyết giữ, thì nó cũng mang chứa đặc trưng nhân cách của Bờm, tước đoạt được nó là tước đoạt được một cách tượng trưng ý chí và bản lĩnh kiên định của Bờm, và biết đâu đó lại là cách Phú ông dùng của cải khuất phục được tên nông dân nổi danh cứng đầu cứng cổ, từ đó khuất phục số đông? Nghĩa là, cái quạt mo không còn là cái quạt mo - nó chính là biểu trưng của nhân cách, lịch sử và ý chí. Nỗ lực của Phú ông thực chất là nỗ lực tước đoạt bản ngã văn hóa của những nông dân nghèo khó như Bờm.

Nếu là cuộc trao đổi thực dụng thì Phú ông không thể đấu giá với chính mình theo cách kỳ quặc như ta đã thấy. Phú ông tự đặt ra giá cao rồi giảm dần xuống từ "ba bò chín trâu, hạ xuống nắm xôi". Đó không phải là lôgic đấu giá hay mặc cả. Đó là lôgic của tiếp biến văn hóa. Phú ông đổi từ "ba bò chín trâu sang ao sâu cá mè" rồi sang "một bè gỗ lim" không phải là sự hạ giá hay đổi thay giá trị trao đổi, mà chỉ là một cuộc trình diện cụ thể rất khác nhau về ý nghĩa và giá trị trong tương quan văn hóa.

Trong tư cách là những vật cụ thể thì những vật trao đổi Phú ông đưa ra là bình đẳng về giá trị trong tiêu chí cảm tính của người Viê.t. Thái độ cụ thể là một thái độ khá đặc trưng của người Việt - cùng là một nắm xôi, một miếng ăn, nhưng đặt trong thời gian và không gian cụ thể nó mang các giá trị khác nhau "miếng khi đói bằng gói khi no, miếng giữa làng bằng sàng giữa chợ, lời chào cao hơn mâm cỗ, miếng ăn là miếng nhục, đánh nhau chia gạo chào nhau ăn cơm,v.v." Với người Việt không có một công thức chung cứng nhắc, giáo điều hay một thứ cẩm nang bảo bối! Nội dung tính chất, giá trị của sự vật được người Việt kiểm chứng trong các quan hệ cụ thể, để "tùy", "lựa", "liệu" rất linh hoạt và linh ứng. Từ tâm thức văn hóa đó đẻ ra cách mặc cả kỳ quái như của Phú ông, đem cái cụ thể này đổi lấy cái cụ thể khác để kiểm chứng nhu cầu cụ thể của Bờm. Nói Phú ông tiếp biến văn hóa là theo nghĩa đó. Song, sự tiếp biến văn hóa của Phú ông không hề là sự hạ cấp giá trị trao đổi. Xét từ góc độ giá trị văn hóa và sự tôn trọng thì cách thỏa thuận của Phú ông là ngày càng đưa Bờm lên một bậc giá trị cao hơn. Nếu như "ba bò chín trâu" là tư liệu sản xuất, thì "ao sâu cá mè" là thực phẩm, "bè gỗ lim" là vật liệu xây dựng, "chim đồi mồi" là thú ăn chơi đài các và "nắm xôi "là đồ thờ cúng, là thức ăn lễ Tết. Rõ ràng là qua cách đổi thay vật trao đổi, Phú ông vừa tiếp thị văn hóa, vừa nâng cấp thân phận của Bờm. Lúc đầu Bờm chỉ được Phú ông coi là kẻ vai u thịt bắp, cày ruộng chăn bò hay là kẻ lái trâu, sau đó Bờm được coi như con người, đã đến lúc lo việc xây dựng cơ ngơi, rồi lại nâng cấp Bờm lên con người biết ăn chơi đài các như ai, và cuối cùng mức cao nhất là nâng Bờm lên một người ăn thức ăn thanh cảnh trong lẽ Tết. Lôgic cư xử của Phú ông là ngày càng tỏ ra coi trọng Bờm, lịch sự với Bờm, đặt Bờm xa dần những tương quan vật chất thô lậu để đưa Bờm vào cương vị quý tộc có chim đồi mồi và biết quý nắm xôi hơn cả trâu bò, nhà cửa. Nghĩa là, bằng sự mặc cả theo lôgic nâng cấp thân phận, nâng cấp giá trị văn hóa đó, Phú ông đã giải phóng Bờm khỏi thân phận nông dân trong các quan hệ kinh tế sản xuất để đưa Bờm vào không gian văn hóa, môi trường giá trị văn hóa. Và nếu như ta đã từng bán nhà, bán cửa, bán trâu bò để giành lấy một thanh danh, một "miếng giữa làng" thì sao Bờm lại không thể đổi quạt mo lấy nắm xôi kia, nhất là khi nắm xôi được đưa ra trong tư cách phủ định trâu bò, nhà cửa?

II - Nụ cười của Bờm, một bản lĩnh nước đôi

Khả năng giải mã một văn bản là vô tận và mỗi cách tiếp cận, lại có nhiều góc nhìn khác nhau, mỗi góc nhìn khác nhau lại có nhiều công cụ và thao tác khác nhau.

Khi giải mã lôgic trao đổi giữa Phú ông và Bờm theo hướng tìm kiếm một lôgic văn hóa như đã trình bày ở phần trên, chúng tôi mong mã số mới này bao quát cả nụ cười của Bờm ở câu cuối của bài ca dao. Nhưng với một sự thận trọng cần thiết, chúng tôi muốn phân tích sâu nụ cười nước đôi, đi vào hai hướng khác nhau giả định hai ý nghĩa khác nhau để đi đến kết luận rằng: nụ cười của Bờm là chấp thuận hay từ chối thì lôgic ngầm đã phân tích ở phần trên vẫn không sụp đổ.

1. Nụ cười chấp thuận.

Theo lô gíc thông thường vì được nâng giá văn hóa và được cải thiện thân phận qua những lần Phú ông mặc cả, Bờm cười và chấp thuâ.n. Nụ cười của Bờm đã được hầu hết các nhà phân tích coi là nụ cười chấp thuận, nhưng lại nói bản chất sự chấp thuận này là cái nhìn thiết thực thiển câ.n. Theo hướng giải mã của chúng tôi thì nụ cười này của Bờm lại là nụ cười chiến thắng, nụ cười của kẻ mạnh vì Bờm đã được Phú ông liên tục "xin đổi" một cách năn nỉ và trân trọng, hơn thế nữa ngày càng đưa ra những vật đổi thanh cao. Quá trình thay vật trao đổi cũng là quá trình thanh cao hóa, tượng trưng hóa và song song với nó là quá trình Phú ông từ chỗ huênh hoang, cậy của trở thành kẻ thành tâm. Như vậy là Phú ông lại xoay như chong chóng trước một cái lắc đầu duy nhất của Bờm và cuối cùng phải thay đổi thái độ. Đó là sự chiến thắng của Bờm. Sự chiến thắng này là chiến thắng về văn hóa, vì trong quan hệ quyền lực và quan hệ cạnh tranh kinh tế không thể có chuyện kẻ mạnh về gạo bạo về tiền như Phú ông phải xoay xỏa năn nỉ Bờm như thế. Chỉ có thể hiểu sự bất lực cay cú của Phú ông từ góc nhìn văn hóa. Khát vọng chinh phục, khát vọng đồng hóa là một khát vọng không dễ gì thỏa mãn bằng tiền của và bạo lư.c. Sự kiên định bản ngã văn hóa tạo nên sức mạnh "phú quý bất năng di" của những người nông dân nghèo khổ. Suy rộng ra sự kiên định của Bờm cũng chính là sự kiên định của bản lĩnh văn hóa kiểu Việt Nam.

2. Nụ cười từ chối

Nụ cười của Bờm nếu hiểu là nụ cười từ chối thì lôgic văn hóa của cuộc trao đổi vẫn không vì thế mà bị sụp đổ, trái lại được khẳng định rõ hơn. Bờm vẫn có thể từ chối một ngôi vị văn hóa càng ngày càng cao mà Phú ông đã đưa tới cho Bờm vì bản lĩnh của Bờm là một tự do bên ngoài những liên kết ấy. Khát vọng của Bờm chỉ là được là chủ nhân của cái quạt mo, khát vọng ấy là một nhu cầu tinh thần mang tính triết học mà ngay cả những giá trị tinh thần cũng không thể trao đổi được dù Bờm có được Phú ông phong Thánh hay dù ai đó có quyền lực đặt Bờm vào ngôi Vua như trong truyện cổ tích thì Bờm vẫn không thể đánh đổi cái quạt mo, lấy những ngôi vị cao quý đó, đơn giản chỉ vì Bờm yêu cái quạt mo gắn bó và thủy chung với nó. Logic của tình yêu là như vâ.y. Người nông dân Việt Nam trong cổ tích và ca dao đã luôn ca ngợi những đức tính thủy chung:

Chồng em áo rách em thương,
Chồng người áo gấm xông hương mặc người


Bài ca dao "Thằng Bờm", cũng có thể là một bài ca dao ngợi ca đức thủy chung tình nghĩa của con người đối với đồ vật của mình. Với đồ vật cũng gắn bó như vậy thì với con người còn gắn bó đến mức nào.

Như vậy là chấp thuận hay từ chối, nụ cười của Bờm cũng bộc lộ một phương thức ứng xử tế nhị đầy tính nước đôi của con người Việt Nam. Trong tư cách một tín hiệu nghệ thuật, nụ cười của Bờm là một tín hiệu đa nghĩa. Nó là viên ngọc đặt trên bệ đỡ của cuộc thỏa thuận kỳ lạ đó. Và dù viên ngọc có ánh lên mầu sắc khác nhau, thì cái giá đỡ nâng nó lên vẫn không vì thế mà thay đổi. Mỗi một câu ca dao là một nấc thang nâng cao nhân cách, phẩm giá và sự kiên định văn hóa của con người Việt Nam. Bài ca dao "Thằng Bờm" là một sự cắt nghĩa giải mã bản lĩnh văn hóa Việt trước bao nhiêu tham vọng, âm mưu đồng hóa và chiếm đoạt.

Bài ca dao "Thằng Bờm", dù có ý thức hay không đã phát lộ khát vọng văn hóa trong con người Việt Nam là khát vọng lớn hơn khát vọng của cải. Quan hệ văn hóa đã lấn át quan hệ thương mại, dẫn đến cái giá trị hơn vàng bạc hay tiền của, khát vọng về đổi thay thân phận và đổi thay diện mạo lớn hơn khát vọng về tài sản. Cái quạt mo ở đây chính là biểu trưng của bản lĩnh văn hóa, không để mất văn hóa bằng mọi giá.

Có thể nói, cũng đều là những bài ca dao bộc lộ khát vọng văn hóa của người nông dân Việt Nam, nhưng bài Thằng Bờm là tương phản, đối trọng với bài "Con cò mà đi ăn đêm". Nếu như con cò bị lộn cổ xuống ao phải năn nỉ xin "ông ơi, ông vớt tôi nao và xin được xáo nước trong" để giãi bày tấm lòng trong sạch, thì "Thằng Bờm" đã có thể nở nụ cười hạnh phúc, nụ cười của kẻ mạnh trước tư thế năn nỉ của Phú ông. Sự đảo thế trong hai bài ca dao cũng phát lộ một dải tần rộng của bản lĩnh văn hóa Việt Nam, dù ở thế mạnh hay thế yếu, dù lúc sa cơ hay lúc lên ngôi, người nông dân Việt Nam vẫn kiên định khôn nguôi một khát vọng văn hóa giản dị: sự trong sạch, đức thủy chung vượt lên giầu sang và cái chết. 



*********************************


"Giải mã" bài ca dao Thằng Bờm

Nguyễn Trọng Bình

Một bài ca dao chỉ vỏn vẹn 10 câu thơ lục bát, thế nhưng để lĩnh hội nó là điều không đơn giản chút nào. Có thể nói, cho đến nay, có khá nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu đề xuất những cách hiểu khác nhau về bài ca dao ngộ nghĩnh và đáng yêu này.
1. Những cách hiểu khác nhau về bài ca dao Thằng Bờm
Tựu trung lại đến thời điểm này, về cơ bản tồn tại 3 nhóm cách hiểu khác nhau về bài ca dao thằng Bờm, có thể tóm tắt như sau:
- Cách hiểu thứ nhất: Bài ca dao là tiếng cười đả kích, châm biếm nhân vật thằng Bờm - kẻ “ngu dốt”, “tham ăn, thực dụng”, tít mắt trước “nắm xôi” của lão Phú ông.
- Cách hiểu thứ hai: Bài ca dao là tiếng cười đả kích, châm biếm nhân vật Phú ông và ca ngợi nhân vật thằng Bờm - người “thông minh”. Dân gian đã nhọc lòng sáng tạo ra Bờm, cho Bờm nhận một “hòn xôi” để gởi vào đấy một triết lý thật đơn giản mà cũng thật sâu sắc : tôi chỉ nhận đúng cái mình có, nếu nhận quá đi sẽ thành bi kịch.” [1]
- Cách hiểu thứ ba: Không chấp nhận hai cách hiểu trên, có người đề xuất cách hiểu bài ca dao thằng Bờm ở góc nhìn khám phá những đặc trưng văn hóa mang tính bản sắc trong thái độ của Bờm và của Phú ông”. Tiêu biểu cho cách hiểu này là bài viết của Đỗ Minh Tuấn đăng cách nay cũng khá lâu trên báo Văn nghệ trẻ. Và theo Đỗ Minh Tuấn thì “Bài ca dao "Thằng Bờm", dù có ý thức hay không đã phát lộ khát vọng văn hóa trong con người Việt Nam là khát vọng lớn hơn khát vọng của cải. Quan hệ văn hóa đã lấn át quan hệ thương mại, dẫn đến cái giá trị hơn vàng bạc hay tiền của, khát vọng về đổi thay thân phận và đổi thay diện mạo lớn hơn khát vọng về tài sản. Cái quạt mo ở đây chính là biểu trưng của bản lĩnh văn hóa, không để mất văn hóa bằng mọi giá.” [2]
Nhìn lại 3 nhóm cách hiểu trên, có thể nói, tuy ít nhiều cũng đã có những kiến giải khá hợp lý nhưng nhìn chung cách hiểu nào cũng bộc lộ những hạn chế nhất định trong phương pháp tiếp cận vì vậy đưa đến các kết luận cuối cùng còn nhiều vấn đề chưa thỏa đáng. Nếu ở nhóm cách hiểu thứ nhất và thứ hai, do quá chú trọng đến việc “giải mã” nội dung xã hội (khá giản đơn và máy móc) của toàn bài ca dao mà cụ thể là xoay quanh cuộc “mặc cả” giữa Phú ông và thằng Bờm về “cái quạt mo” mà quên đi cái “không gian văn hóa” – môi trường ra đời và tồn tại của bài ca dao thì ở cách hiểu thứ 3 lại quá “sai sưa” trong việc “khám phá những đặc trưng văn hóa mang tính bản sắc trong thái độ của Bờm và của Phú ông” mà quên đi vấn đề đặc trưng của thể loại văn học dân gian. Với các tác phẩm văn học dân gian nói chung, nếu áp đặt cách tư duy của người hiện đại và lấy đó “giải mã” cho tư duy của tác giả dân gian thì e là cũng khó tạo được sự đồng thuận. Cho nên, từ “cái quạt mo” của thằng Bờm mà nâng lên thành “cái quạt mo - một siêu giá trị” văn hóa (hay“cái quạt mo ở đây chính là biểu trưng của bản lĩnh văn hóa, không để mất văn hóa bằng mọi giá”); và từ tiếng cười của thằng Bờm mà nâng lên thành “Nụ cười Bờm - một bản lĩnh nước đôi” như cách nói của Đỗ Minh Tuấn e là có gì đó hơi gượng gạo và mang nặng tính suy diễn.
Khắc phục những hạn chế trên, bài viết này sẽ đưa ra cách “giải mã” bài ca dao trên cơ sở tiếp thu những kiến giải hợp lý từ các quan điểm trước đó. Bên cạnh đó, là sự tôn trọng văn bản và nội dung của bài ca dao cũng như tôn trọng những đặc trưng về thi pháp và thể loại của tác phẩm văn học dân gian nói chung. Và theo chúng tôi thì để có thể “giải mã” được tinh thần của bài ca dao này, thiết nghĩ việc đầu tiên cần làm là phải “giải mã” cho được lai lịch của nhân vật Phú Ông và nhân vật thằng Bờm cũng như phải lý giải cho được vì sao nhân vật Phú Ông lại quyết tâm đổi cái quạt mo và đặc biệt là “giải mã” ý nghĩa tiếng cười của thằng Bờm trên cơ sở các đặc điểm về tính biểu trưng trong tác phẩm văn học dân gian này.
2. “Giải mã” lai lịch nhân vật Phú ông và thằng Bờm  
Trước hết, chúng ta cùng đọc lại bài ca dao:
Thằng Bờm có cái quạt mo 
Phú Ông xin đổi ba bò chín trâu 
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu 
Phú Ông xin đổi ao sâu cá mè. 
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mè 
Phú Ông xin đổi một bè gỗ lim. 
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy lim 
Phú Ông xin đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mồi 
Phú Ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười!

Dựa vào văn bản bài ca dao cũng như trên cơ sở các tác phẩm văn học dân gian khác có nhắc đến nhân vật Phú Ông (Sự tích con Thạch Sùng, Giận mày tao ở với ai, Cây tre trăm đốt…) có thể phác họa lai lịch của nhân vật Phú Ông trong tư duy của tác giả dân gian nói chung và trong bài ca dao Thằng Bờm như sau:
- Phú Ông: Trong tư duy dân gian đó là những tên nhà giàu thời xưa với những đặc điểm như: tham lam, keo kiệt, bủn xỉn, ngu dốt và hay khoe khoang… mà tác giả dân gian có khi còn gọi là những tên “trọc phú”. Tùy vào hoàn cảnh cụ thế mà tác giả dân gian xây dựng nhân vật Phú Ông thông qua việc nhấn mạnh đặc điểm này hay đặc điểm kia hoặc có khi là tất cả các đặc điểm trên.
- Qua văn bản bài ca dao thằng Bờm, đặc biệt là qua cuộc “mặc cả” giữa lão Phú Ông với Thằng Bờm có thể thấy nhân vật Phú Ông được tác giả dân gian nhấn mạnh với tổng hợp các đặc điểm của một tên nhà giàu trọc phú là: giàu có, ngu dốt, tham lam và đặc biệt là rất hay khoe khoang. Đến đây hẳn có người sẽ thắc mắc, các đặc điểm giàu có, ngu dốt, tham lam là phải rồi nhưng dựa vào đâu để nói là nhân vật Phú Ông này hay khoe khoang? Vấn đề này chúng tôi xin sẽ giải thích ở phần sau. Bây giờ chúng ta tiếp tục đi tìm lai lịch nhân vật thằng Bờm.
Dựa vào văn bản bài ca dao và tính biểu trưng của văn học dân gian chúng ta có thể giải mã lai lịch nhân vật thằng Bờm trong bài ca dao này như sau:
- “Thằng Bờm” và “cái quạt mo” (tài sản duy nhất của nó) là hình ảnh mang tính biểu trưng nhằm nói về một hạng người nghèo khó, cùng đinh trong xã hội cũ mà tác giả dân gian xây dựng trong thế đối lập với hạng người giàu có là Phú Ông (với rất nhiều tài sản “ba bò chín trâu, ao sâu cá mè, một bè gỗ lim, con chim đồi mồi, nắm xôi…”)
- “Thằng Bờm” trong bài ca dao là một anh chàng tuy nghèo nhưng rất thông minh và có gì đó rất lém lĩnh bởi hắn chỉ có duy nhất “cái quạt mo” nhưng buộc lão Phú Ông phải “xuống nước” “năn nỉ”, “van xin” để đổi lấy bằng những tài sản quý giá.
Nói tóm lại, thông qua những hình ảnh biểu trưng như: “cái quạt mo” của thằng Bờm; hay những hình ảnh “ba bò chín trâu, ao sâu cá mè, một bè gỗ lim, con chim đồi mồi, nắm xôi…” của Phú Ông trong bài ca dao này tác giả dân gian trước hết muốn nói đến lên hai hạng người trong xã hội cũ trong thế đối lập đó là: gã trọc phú nhà giàu nhưng tham lam, ngu dốt rất hay khoe khoang và anh “dân đen” cùng đinh nhưng thông minh, lém lĩnh.
3. “Giải mã” vì sao Phú Ông lại “năn nỉ” thằng Bờm?  
“Giải mã” vấn đề này chúng ta sẽ tiến thêm một bước rất quan trọng trong việc “giải mã” tinh thần chung của toàn bài ca dao.
Trước hết, đọc toàn bài ca dao chúng ta thấy lão Phú Ông giàu có với nhiều tài sản quý giá nhưng rất quyết tâm đi “năn nỉ” thằng Bờm để đổi lấy “cái quạt mo”. Hắn điên rồi chăng, hay cái quạt mo của thằng Bờm là “quạt thần”? Chắc chắn đều không phải, không có cơ sở nào để lý giải các điều ấy.
Thực ra Phú Ông không điên, “cái quạt mo” của thằng Bờm cũng không phải quạt thần gì cả. Tất cả chỉ vì cái tính tham lam, ngu dốt và nhất là rất hay khoe khoang của tên trọc phú mà ra. Nếu nhìn lại nhân vật Phú Ông trong bài ca dao này chúng ta sẽ thấy có gì đó giống với nhân vật Thạch Sùng – cũng là một tên Phú Ông sau khi đã qua cái thời “khố rách áo ôm” trong Sự tích con Thạch Sùng với câu châm ngôn quen thuộc“Thạch Sùng thiếu mẻ cá kho”. Trong sự tích này chúng ta hẳn đều biết Thạch Sùng sau khi giàu có và trở thành một Phú Ông giàu “nứt đố, đổ vách” hắn đã vênh váo với tất cả mọi người rằng nhà hắn “không thiếu một thứ gì” thế nhưng có người mang ra “mẻ cá kho” (hình ảnh biểu trưng cho cuộc sống của những người cùng đinh, nghèo khó) thì hắn mới vỡ lẽ. Trong cái nhìn tương tự có thể thấy, rất có thể bài ca dao thằng Bờm chính là những câu chuyện mà tác giả dân gian trước hết muốn châm biếm đả kích hạng người giàu có, ngu dốt và rất hay huênh hoang, tự đắc. Lão Phú Ông trong bài ca dao vì thế, không phải điên khi đem rất nhiều tài sản quý giá ra để đổi “cái quạt mo” của thằng Bờm mà đây là cuộc “đấu trí” của lão trọc phú ngu dốt, huênh hoang và kẻ cùng đinh nhưng thông minh, lém lĩnh. Lão trọc phú đã huênh hoang cho rằng nhà ta “cái gì cũng có” nhưng khi thằng Bờm trưng ra “cái quạt mo” thì lão mới tá hỏa. Nếu “Thạch Sùng thiếu mẻ cá kho” thì tên Phú Ông này thiếu cái “cái quạt mo” cũng không có gì là lạ và khó hiểu. Tuy nhiên, cái độc đáo trong bài ca dao thằng Bờm không phải chỉ có bao nhiêu đó. Không giống với truyện Thạch Sùng, tác giả dân gian trong bài ca dao Thằng Bờm còn tiến thêm bước nữa là để cho Lão Phú ông tìm cách sở hữu cái mà trong nhà hắn còn thiếu. Vấn đề là sở hữu bằng cách nào? Lẽ thường với vị thế trong xã hội có thể nói, những tên trọc phú thời xưa không khó để chiếm đoạt “cái quạt mo” của những hạng người cùng đinh, “thấp cổ bé miệng”. Tuy nhiên, với tư duy dân gian, và có lẽ cùng với cái khát vọng, cái ước mơ muốn sang bằng những nỗi bất công trong xã hội, tác giả dân gian đã rất thông minh dựng lên “kịch bản” Phú Ông phải đi “năn nỉ” thằng Bờm để có “cái quạt mo”. Đây là một bằng chứng cho chúng ta thấy sự phong phú trong trí tưởng tượng và nét đẹp của trí tuệ - tư duy dân gian ngàn đời của cha ông. Những tên trọc phú nhà giàu rồi sẽ có lúc nào đó cũng phải “xuống nước” năn nỉ kẻ cùng đinh. Có thể nói, với cách tư duy độc đáo này, tác giả dân gian đã để lại cho chúng ta một bài ca dao mang tính biểu trưng có ý nghĩa vô cùng sâu sắc và độc đáo.
 Cho nên, chỉ có cách giải thích lão Phú ông trong bài ca dao Thằng Bờm là một tên trọc phú vừa ngu dốt vừa tham lam và đặc biệt là rất hay khoe khoang nên đã thua trí thằng Bờm là phù hợp với cái logic lão quyết tâm đem nhiều tài sản có giá trị ra để năn nỉ thằng Bờm đổi lấy “cái quạt mo” không có giá trị.
4. “Giải mã” cái cười của thằng Bờm.
Ngẫm lại bài ca dao, chúng ta thấy, nhờ nắm được “cái tẩy” tham lam, ngu dốt và nhất là hay khoe khoang, vênh váo của lão Phú Ông khi bảo rằng “nhà ta không thiếu thứ gì” nên thằng Bờm với trí thông minh và sự lém lĩnh đã dạy cho lão một bài học. Một “cái quạt mo” không có giá trị nhưng lại là vật còn thiếu trong nhà của tên Phú Ông. Thằng Bờm đã “cược” với lão như thế và lão đã thua. Nhưng với bản tính tham lam, ngu dốt, lão Phú Ông không ngần ngại vung tiền ra để sở hữu cho bằng được “cái quạt mo” (vì nếu đổi được sau này hắn sẽ càng có cơ hội huênh hoang hơn là giờ đây nhà ta chắc chắn sẽ không thiếu một thứ gì). Tuy nhiên, kết quả như thế nào thì mọi người đã rõ. Tên trọc phú trong cuộc “mặc cả” cuối cùng chỉ nhận duy nhất một “cái cười” của Thằng Bờm (kẻ cùng đinh lém lĩnh). Đến đây cho chúng ta thấy tư duy dân gian quả là rất “ghê gớm”. Một cái cười thật là thâm sâu, có một không hai!
Để “giải mã” cho cái cười của thằng Bờm trong bài ca dao này có một chi tiết vô cùng quan trọng mà chúng ta không thể bỏ qua đó là: trong quá trình “mặc cả” giữa lão Phú Ông và thằng Bờm, sau mỗi lần thằng Bờm “lắc đầu” không chịu đổi “cái quạt mo” cho lão thì giá trị của vật mà lão đem ra đổi lại hạ thấp dần. Theo logic thông thường điều này không phù hợp chút nào. Đầu tiên anh mang“ba bò chín trâu” ra đổi người ta không chấp nhận vậy anh phải nâng lên thành “mười bò, hai mươi trâu” mới hợp lẽ, đằng này anh lại hạ thấp xuống còn chỉ một “nắm xôi”. Giải thích vấn đề này như thế nào đây? Lâu nay các nhà nghiên cứu thường “lơ” vấn đề này khi đi vào phân tích bài ca dao này. Hoặc không thì có nhiều người để lý giải cho sự “thông minh” và tính “không tham lam” của thằng Bờm lại cho rằng thằng Bờm không bị mắc lừa lão Phú Ông, nó chỉ lấy “nắm xôi” là vật ngang giá với “cái quạt mo”. Hơn nữa lấy “nắm xôi” thì có thể bỏ vào mồm ngay lão Phú Ông nếu có đòi lại cũng không được. Từ đó khái quát lên trong cuộc sống không nên quá tham lam, “chỉ nên nhận những gì mình xứng đáng được nhận”… Thực ra, những cách hiểu này là máy móc, hiểu như thế sẽ không thấy hết thâm ý của tác giả dân gian về cái cười của thằng Bờm ở câu thơ cuối. Vậy thì phải hiểu chi tiết này như thế nào đây? Như đã phân tích ở trên, lẽ thường khi anh đưa ra điều kiện đổi, người ta không chấp nhận thì anh phải tăng giá trị vật anh lấy ra đổi mới hợp logic. Cho nên, trong trường hợp này chúng ta phải hiểu là sau khi lão Phú Ông mang “ba bò chín trâu” ra đổi “cái quạt mo” nhưng thằng Bờm không chịu đổi, tiếp theo lão lại bảo “thế thì tao cộng thêm cho mày “một ao sâu cá mè” nữa nhé” nhưng thằng Bờm vẫn không chịu đổi. Và cứ như thế lão Phú Ông lại cộng thêm, cộng thêm mãi cho đến cái tài sản có giá trị nhỏ nhất trong nhà lão là “nắm xôi” nhưng rồi cuối cùng thằng Bờm chỉ trả lời lão bằng duy nhất một nụ cười mà thôi. Phải hiểu như thế này chúng ta mới có thể “giải mã” cho cái cười của Thằng Bờm và đồng thời cũng là “giải mã” cho cái cười thể hiện vẻ đẹp của trí tuệ và tư duy dân gian của người xưa: dù thằng Bờm cười - đồng ý hay cười - không đồng ý đổi “cái quạt mo” thì trong cuộc đấu trí giữa tên “trọc phú” và anh “dân đen” cuối cùng tên trọc phú cũng thua một cách thật thảm hại và nhục nhã. Bởi vì:
Thứ nhất: Đường đường là một Phú Ông vốn luôn tự đắc “nhà ta không thiếu thứ gì” nhưng hóa ra lại không có “cái quạt mo” như nhà thằng Bờm.
Thứ hai: Đường đường là một Phú Ông nổi tiếng giàu có nhưng phải hạ mình đi “năn nỉ” một thằng dân đen nghèo mạt rệp.
Thứ ba: tất cả tài sản của lão Phú Ông suy cho cùng cũng chỉ ngang bằng “cái quạt mo” của thằng dân đen (trường hợp thằng Bờm cười và đồng ý đổi) hay tệ hại hơn là không bằng một “cái quạt mo” của thằng dân đen (trường hợp thằng Bờm cười nhưng không đồng ý đổi). Điều này quả là quá nhục nhã.
5. Kết luận chung hay là việc “giải mã” những tầng bậc ý nghĩa của bài ca dao Thằng Bờm
Trên cơ sở những phân tích nhằm “giải mã” lai lịch lão Phú Ông, “giải mã” lai lịch thằng Bờm; “giải mã” vì sao Phú Ông lại đem những tài sản có giá trị của mình để đổi lấy “cái quạt mo”; “giải mã” tiếng cười của thằng Bờm… có thể rút ra những kết luận “giải mã” toàn bài ca dao thằng Bờm (tùy vào mỗi góc nhìn) với những cấp độ ý nghĩa như sau:
5.1 Bài ca dao Thằng Bờm là tiếng cười châm biếm, đả kích những hạng người giàu có nhưng tham lam, ngu dốt và đặc biệt là rất hay khoe khoang, vênh váo, tự đắc, mình là số một trong thiên hạ – một dạng “trọc phú” hay “trưởng giả học làm sang” trong xã hội mà Đông Tây, kim, cổ đều có.
5.2 Trong cái nhìn của người xưa, bài ca dao Thằng Bờm ở góc độ nào đó phản ánh sự bất công trong xã hội (Phú Ông – đại diện cho bọn “trọc phú” giàu có lắm bạc nhiều tiền sẵn sàng vung ra mua lấy cái danh hão nhằm thỏa mãn cho những thú vui ích kỷ của bản thân trong khi đó Thằng Bờm – đại diện cho những con người nghèo khó cơ cực không có một tài sản gì quý giá). Tiếng cười của thằng Bờm ở cuối bài ca dao là tiếng cười để tác giả dân gian qua đó bộc lộ những khát vọng, những ước mơ chính đáng về một cuộc sống, một xã hội công bằng, dân chủ.
5.3 Qua cuộc mặc cả giữa Phú Ông và thằng Bờm, bài ca dao thể hiện một triết lý nhân sinh có ý nghĩa muôn thuở của người xưa đó là: trong cuộc sống không phải anh có tiền, có của là anh muốn gì cũng được, mua gì cũng được, đổi gì cũng được, làm gì cũng được...
5.4 Nhìn ở góc độ văn hóa, bài ca dao Thằng Bờm một lần nữa khẳng định chiều sâu của vẻ đẹp trí tuệ và tư duy dân gian sâu sắc và độc đáo của người xưa: những kẻ mà trong cuộc sống tuy giàu về tiền bạc, của cải nhưng chưa chắc đã “giàu” về trí tuệ, ngược lại những người nghèo khó về tiền bạc nhưng có khi họ rất “giàu” về trí tuệ. Hay nói cách khác đó là cách nói “nhân vô thập toàn” của người xưa.
Cần Thơ, 13/2/2011
Nguyễn Trọng Bình
--------------------------------
Ghi chú: Bài đã đăng trên tạp chí Kiến thức ngày nay 


[1] Thằng Bờm có cái quạt mo – Bài của Lê Tiến Dũng in trên lần đầu trên Kiến thức ngày nay năm 1997 được chúng tôi trích dẫn lại từ trang web khoavanhoc-ngonngu.edu.vn của Khoa văn học và ngôn ngữ, trường Đại học KHXH& Nhân văn TP. Hồ Chí Minh.
[2] Một cách hiểu về bài ca dao thằng Bờm – Bài của Đỗ Minh Tuấn in lần đầu trên Văn nghệ trẻ được chúng tôi trích dẫn lại từ trang web www.suutap.com.



"Giải mã" bài ca dao Thằng Bờm

Nguyễn Trọng Bình

Một bài ca dao chỉ vỏn vẹn 10 câu thơ lục bát, thế nhưng để lĩnh hội nó là điều không đơn giản chút nào. Có thể nói, cho đến nay, có khá nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu đề xuất những cách hiểu khác nhau về bài ca dao ngộ nghĩnh và đáng yêu này.
1. Những cách hiểu khác nhau về bài ca dao Thằng Bờm
Tựu trung lại đến thời điểm này, về cơ bản tồn tại 3 nhóm cách hiểu khác nhau về bài ca dao thằng Bờm, có thể tóm tắt như sau:
- Cách hiểu thứ nhất: Bài ca dao là tiếng cười đả kích, châm biếm nhân vật thằng Bờm - kẻ “ngu dốt”, “tham ăn, thực dụng”, tít mắt trước “nắm xôi” của lão Phú ông.
- Cách hiểu thứ hai: Bài ca dao là tiếng cười đả kích, châm biếm nhân vật Phú ông và ca ngợi nhân vật thằng Bờm - người “thông minh”. Dân gian đã nhọc lòng sáng tạo ra Bờm, cho Bờm nhận một “hòn xôi” để gởi vào đấy một triết lý thật đơn giản mà cũng thật sâu sắc : tôi chỉ nhận đúng cái mình có, nếu nhận quá đi sẽ thành bi kịch.” [1]
- Cách hiểu thứ ba: Không chấp nhận hai cách hiểu trên, có người đề xuất cách hiểu bài ca dao thằng Bờm ở góc nhìn khám phá những đặc trưng văn hóa mang tính bản sắc trong thái độ của Bờm và của Phú ông”. Tiêu biểu cho cách hiểu này là bài viết của Đỗ Minh Tuấn đăng cách nay cũng khá lâu trên báo Văn nghệ trẻ. Và theo Đỗ Minh Tuấn thì “Bài ca dao "Thằng Bờm", dù có ý thức hay không đã phát lộ khát vọng văn hóa trong con người Việt Nam là khát vọng lớn hơn khát vọng của cải. Quan hệ văn hóa đã lấn át quan hệ thương mại, dẫn đến cái giá trị hơn vàng bạc hay tiền của, khát vọng về đổi thay thân phận và đổi thay diện mạo lớn hơn khát vọng về tài sản. Cái quạt mo ở đây chính là biểu trưng của bản lĩnh văn hóa, không để mất văn hóa bằng mọi giá.” [2]
Nhìn lại 3 nhóm cách hiểu trên, có thể nói, tuy ít nhiều cũng đã có những kiến giải khá hợp lý nhưng nhìn chung cách hiểu nào cũng bộc lộ những hạn chế nhất định trong phương pháp tiếp cận vì vậy đưa đến các kết luận cuối cùng còn nhiều vấn đề chưa thỏa đáng. Nếu ở nhóm cách hiểu thứ nhất và thứ hai, do quá chú trọng đến việc “giải mã” nội dung xã hội (khá giản đơn và máy móc) của toàn bài ca dao mà cụ thể là xoay quanh cuộc “mặc cả” giữa Phú ông và thằng Bờm về “cái quạt mo” mà quên đi cái “không gian văn hóa” – môi trường ra đời và tồn tại của bài ca dao thì ở cách hiểu thứ 3 lại quá “sai sưa” trong việc “khám phá những đặc trưng văn hóa mang tính bản sắc trong thái độ của Bờm và của Phú ông” mà quên đi vấn đề đặc trưng của thể loại văn học dân gian. Với các tác phẩm văn học dân gian nói chung, nếu áp đặt cách tư duy của người hiện đại và lấy đó “giải mã” cho tư duy của tác giả dân gian thì e là cũng khó tạo được sự đồng thuận. Cho nên, từ “cái quạt mo” của thằng Bờm mà nâng lên thành “cái quạt mo - một siêu giá trị” văn hóa (hay“cái quạt mo ở đây chính là biểu trưng của bản lĩnh văn hóa, không để mất văn hóa bằng mọi giá”); và từ tiếng cười của thằng Bờm mà nâng lên thành “Nụ cười Bờm - một bản lĩnh nước đôi” như cách nói của Đỗ Minh Tuấn e là có gì đó hơi gượng gạo và mang nặng tính suy diễn.
Khắc phục những hạn chế trên, bài viết này sẽ đưa ra cách “giải mã” bài ca dao trên cơ sở tiếp thu những kiến giải hợp lý từ các quan điểm trước đó. Bên cạnh đó, là sự tôn trọng văn bản và nội dung của bài ca dao cũng như tôn trọng những đặc trưng về thi pháp và thể loại của tác phẩm văn học dân gian nói chung. Và theo chúng tôi thì để có thể “giải mã” được tinh thần của bài ca dao này, thiết nghĩ việc đầu tiên cần làm là phải “giải mã” cho được lai lịch của nhân vật Phú Ông và nhân vật thằng Bờm cũng như phải lý giải cho được vì sao nhân vật Phú Ông lại quyết tâm đổi cái quạt mo và đặc biệt là “giải mã” ý nghĩa tiếng cười của thằng Bờm trên cơ sở các đặc điểm về tính biểu trưng trong tác phẩm văn học dân gian này.
2. “Giải mã” lai lịch nhân vật Phú ông và thằng Bờm  
Trước hết, chúng ta cùng đọc lại bài ca dao:
Thằng Bờm có cái quạt mo 
Phú Ông xin đổi ba bò chín trâu 
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu 
Phú Ông xin đổi ao sâu cá mè. 
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mè 
Phú Ông xin đổi một bè gỗ lim. 
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy lim 
Phú Ông xin đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mồi 
Phú Ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười!

Dựa vào văn bản bài ca dao cũng như trên cơ sở các tác phẩm văn học dân gian khác có nhắc đến nhân vật Phú Ông (Sự tích con Thạch Sùng, Giận mày tao ở với ai, Cây tre trăm đốt…) có thể phác họa lai lịch của nhân vật Phú Ông trong tư duy của tác giả dân gian nói chung và trong bài ca dao Thằng Bờm như sau:
- Phú Ông: Trong tư duy dân gian đó là những tên nhà giàu thời xưa với những đặc điểm như: tham lam, keo kiệt, bủn xỉn, ngu dốt và hay khoe khoang… mà tác giả dân gian có khi còn gọi là những tên “trọc phú”. Tùy vào hoàn cảnh cụ thế mà tác giả dân gian xây dựng nhân vật Phú Ông thông qua việc nhấn mạnh đặc điểm này hay đặc điểm kia hoặc có khi là tất cả các đặc điểm trên.
- Qua văn bản bài ca dao thằng Bờm, đặc biệt là qua cuộc “mặc cả” giữa lão Phú Ông với Thằng Bờm có thể thấy nhân vật Phú Ông được tác giả dân gian nhấn mạnh với tổng hợp các đặc điểm của một tên nhà giàu trọc phú là: giàu có, ngu dốt, tham lam và đặc biệt là rất hay khoe khoang. Đến đây hẳn có người sẽ thắc mắc, các đặc điểm giàu có, ngu dốt, tham lam là phải rồi nhưng dựa vào đâu để nói là nhân vật Phú Ông này hay khoe khoang? Vấn đề này chúng tôi xin sẽ giải thích ở phần sau. Bây giờ chúng ta tiếp tục đi tìm lai lịch nhân vật thằng Bờm.
Dựa vào văn bản bài ca dao và tính biểu trưng của văn học dân gian chúng ta có thể giải mã lai lịch nhân vật thằng Bờm trong bài ca dao này như sau:
- “Thằng Bờm” và “cái quạt mo” (tài sản duy nhất của nó) là hình ảnh mang tính biểu trưng nhằm nói về một hạng người nghèo khó, cùng đinh trong xã hội cũ mà tác giả dân gian xây dựng trong thế đối lập với hạng người giàu có là Phú Ông (với rất nhiều tài sản “ba bò chín trâu, ao sâu cá mè, một bè gỗ lim, con chim đồi mồi, nắm xôi…”)
- “Thằng Bờm” trong bài ca dao là một anh chàng tuy nghèo nhưng rất thông minh và có gì đó rất lém lĩnh bởi hắn chỉ có duy nhất “cái quạt mo” nhưng buộc lão Phú Ông phải “xuống nước” “năn nỉ”, “van xin” để đổi lấy bằng những tài sản quý giá.
Nói tóm lại, thông qua những hình ảnh biểu trưng như: “cái quạt mo” của thằng Bờm; hay những hình ảnh “ba bò chín trâu, ao sâu cá mè, một bè gỗ lim, con chim đồi mồi, nắm xôi…” của Phú Ông trong bài ca dao này tác giả dân gian trước hết muốn nói đến lên hai hạng người trong xã hội cũ trong thế đối lập đó là: gã trọc phú nhà giàu nhưng tham lam, ngu dốt rất hay khoe khoang và anh “dân đen” cùng đinh nhưng thông minh, lém lĩnh.
3. “Giải mã” vì sao Phú Ông lại “năn nỉ” thằng Bờm?  
“Giải mã” vấn đề này chúng ta sẽ tiến thêm một bước rất quan trọng trong việc “giải mã” tinh thần chung của toàn bài ca dao.
Trước hết, đọc toàn bài ca dao chúng ta thấy lão Phú Ông giàu có với nhiều tài sản quý giá nhưng rất quyết tâm đi “năn nỉ” thằng Bờm để đổi lấy “cái quạt mo”. Hắn điên rồi chăng, hay cái quạt mo của thằng Bờm là “quạt thần”? Chắc chắn đều không phải, không có cơ sở nào để lý giải các điều ấy.
Thực ra Phú Ông không điên, “cái quạt mo” của thằng Bờm cũng không phải quạt thần gì cả. Tất cả chỉ vì cái tính tham lam, ngu dốt và nhất là rất hay khoe khoang của tên trọc phú mà ra. Nếu nhìn lại nhân vật Phú Ông trong bài ca dao này chúng ta sẽ thấy có gì đó giống với nhân vật Thạch Sùng – cũng là một tên Phú Ông sau khi đã qua cái thời “khố rách áo ôm” trong Sự tích con Thạch Sùng với câu châm ngôn quen thuộc“Thạch Sùng thiếu mẻ cá kho”. Trong sự tích này chúng ta hẳn đều biết Thạch Sùng sau khi giàu có và trở thành một Phú Ông giàu “nứt đố, đổ vách” hắn đã vênh váo với tất cả mọi người rằng nhà hắn “không thiếu một thứ gì” thế nhưng có người mang ra “mẻ cá kho” (hình ảnh biểu trưng cho cuộc sống của những người cùng đinh, nghèo khó) thì hắn mới vỡ lẽ. Trong cái nhìn tương tự có thể thấy, rất có thể bài ca dao thằng Bờm chính là những câu chuyện mà tác giả dân gian trước hết muốn châm biếm đả kích hạng người giàu có, ngu dốt và rất hay huênh hoang, tự đắc. Lão Phú Ông trong bài ca dao vì thế, không phải điên khi đem rất nhiều tài sản quý giá ra để đổi “cái quạt mo” của thằng Bờm mà đây là cuộc “đấu trí” của lão trọc phú ngu dốt, huênh hoang và kẻ cùng đinh nhưng thông minh, lém lĩnh. Lão trọc phú đã huênh hoang cho rằng nhà ta “cái gì cũng có” nhưng khi thằng Bờm trưng ra “cái quạt mo” thì lão mới tá hỏa. Nếu “Thạch Sùng thiếu mẻ cá kho” thì tên Phú Ông này thiếu cái “cái quạt mo” cũng không có gì là lạ và khó hiểu. Tuy nhiên, cái độc đáo trong bài ca dao thằng Bờm không phải chỉ có bao nhiêu đó. Không giống với truyện Thạch Sùng, tác giả dân gian trong bài ca dao Thằng Bờm còn tiến thêm bước nữa là để cho Lão Phú ông tìm cách sở hữu cái mà trong nhà hắn còn thiếu. Vấn đề là sở hữu bằng cách nào? Lẽ thường với vị thế trong xã hội có thể nói, những tên trọc phú thời xưa không khó để chiếm đoạt “cái quạt mo” của những hạng người cùng đinh, “thấp cổ bé miệng”. Tuy nhiên, với tư duy dân gian, và có lẽ cùng với cái khát vọng, cái ước mơ muốn sang bằng những nỗi bất công trong xã hội, tác giả dân gian đã rất thông minh dựng lên “kịch bản” Phú Ông phải đi “năn nỉ” thằng Bờm để có “cái quạt mo”. Đây là một bằng chứng cho chúng ta thấy sự phong phú trong trí tưởng tượng và nét đẹp của trí tuệ - tư duy dân gian ngàn đời của cha ông. Những tên trọc phú nhà giàu rồi sẽ có lúc nào đó cũng phải “xuống nước” năn nỉ kẻ cùng đinh. Có thể nói, với cách tư duy độc đáo này, tác giả dân gian đã để lại cho chúng ta một bài ca dao mang tính biểu trưng có ý nghĩa vô cùng sâu sắc và độc đáo.
 Cho nên, chỉ có cách giải thích lão Phú ông trong bài ca dao Thằng Bờm là một tên trọc phú vừa ngu dốt vừa tham lam và đặc biệt là rất hay khoe khoang nên đã thua trí thằng Bờm là phù hợp với cái logic lão quyết tâm đem nhiều tài sản có giá trị ra để năn nỉ thằng Bờm đổi lấy “cái quạt mo” không có giá trị.
4. “Giải mã” cái cười của thằng Bờm.
Ngẫm lại bài ca dao, chúng ta thấy, nhờ nắm được “cái tẩy” tham lam, ngu dốt và nhất là hay khoe khoang, vênh váo của lão Phú Ông khi bảo rằng “nhà ta không thiếu thứ gì” nên thằng Bờm với trí thông minh và sự lém lĩnh đã dạy cho lão một bài học. Một “cái quạt mo” không có giá trị nhưng lại là vật còn thiếu trong nhà của tên Phú Ông. Thằng Bờm đã “cược” với lão như thế và lão đã thua. Nhưng với bản tính tham lam, ngu dốt, lão Phú Ông không ngần ngại vung tiền ra để sở hữu cho bằng được “cái quạt mo” (vì nếu đổi được sau này hắn sẽ càng có cơ hội huênh hoang hơn là giờ đây nhà ta chắc chắn sẽ không thiếu một thứ gì). Tuy nhiên, kết quả như thế nào thì mọi người đã rõ. Tên trọc phú trong cuộc “mặc cả” cuối cùng chỉ nhận duy nhất một “cái cười” của Thằng Bờm (kẻ cùng đinh lém lĩnh). Đến đây cho chúng ta thấy tư duy dân gian quả là rất “ghê gớm”. Một cái cười thật là thâm sâu, có một không hai!
Để “giải mã” cho cái cười của thằng Bờm trong bài ca dao này có một chi tiết vô cùng quan trọng mà chúng ta không thể bỏ qua đó là: trong quá trình “mặc cả” giữa lão Phú Ông và thằng Bờm, sau mỗi lần thằng Bờm “lắc đầu” không chịu đổi “cái quạt mo” cho lão thì giá trị của vật mà lão đem ra đổi lại hạ thấp dần. Theo logic thông thường điều này không phù hợp chút nào. Đầu tiên anh mang“ba bò chín trâu” ra đổi người ta không chấp nhận vậy anh phải nâng lên thành “mười bò, hai mươi trâu” mới hợp lẽ, đằng này anh lại hạ thấp xuống còn chỉ một “nắm xôi”. Giải thích vấn đề này như thế nào đây? Lâu nay các nhà nghiên cứu thường “lơ” vấn đề này khi đi vào phân tích bài ca dao này. Hoặc không thì có nhiều người để lý giải cho sự “thông minh” và tính “không tham lam” của thằng Bờm lại cho rằng thằng Bờm không bị mắc lừa lão Phú Ông, nó chỉ lấy “nắm xôi” là vật ngang giá với “cái quạt mo”. Hơn nữa lấy “nắm xôi” thì có thể bỏ vào mồm ngay lão Phú Ông nếu có đòi lại cũng không được. Từ đó khái quát lên trong cuộc sống không nên quá tham lam, “chỉ nên nhận những gì mình xứng đáng được nhận”… Thực ra, những cách hiểu này là máy móc, hiểu như thế sẽ không thấy hết thâm ý của tác giả dân gian về cái cười của thằng Bờm ở câu thơ cuối. Vậy thì phải hiểu chi tiết này như thế nào đây? Như đã phân tích ở trên, lẽ thường khi anh đưa ra điều kiện đổi, người ta không chấp nhận thì anh phải tăng giá trị vật anh lấy ra đổi mới hợp logic. Cho nên, trong trường hợp này chúng ta phải hiểu là sau khi lão Phú Ông mang “ba bò chín trâu” ra đổi “cái quạt mo” nhưng thằng Bờm không chịu đổi, tiếp theo lão lại bảo “thế thì tao cộng thêm cho mày “một ao sâu cá mè” nữa nhé” nhưng thằng Bờm vẫn không chịu đổi. Và cứ như thế lão Phú Ông lại cộng thêm, cộng thêm mãi cho đến cái tài sản có giá trị nhỏ nhất trong nhà lão là “nắm xôi” nhưng rồi cuối cùng thằng Bờm chỉ trả lời lão bằng duy nhất một nụ cười mà thôi. Phải hiểu như thế này chúng ta mới có thể “giải mã” cho cái cười của Thằng Bờm và đồng thời cũng là “giải mã” cho cái cười thể hiện vẻ đẹp của trí tuệ và tư duy dân gian của người xưa: dù thằng Bờm cười - đồng ý hay cười - không đồng ý đổi “cái quạt mo” thì trong cuộc đấu trí giữa tên “trọc phú” và anh “dân đen” cuối cùng tên trọc phú cũng thua một cách thật thảm hại và nhục nhã. Bởi vì:
Thứ nhất: Đường đường là một Phú Ông vốn luôn tự đắc “nhà ta không thiếu thứ gì” nhưng hóa ra lại không có “cái quạt mo” như nhà thằng Bờm.
Thứ hai: Đường đường là một Phú Ông nổi tiếng giàu có nhưng phải hạ mình đi “năn nỉ” một thằng dân đen nghèo mạt rệp.
Thứ ba: tất cả tài sản của lão Phú Ông suy cho cùng cũng chỉ ngang bằng “cái quạt mo” của thằng dân đen (trường hợp thằng Bờm cười và đồng ý đổi) hay tệ hại hơn là không bằng một “cái quạt mo” của thằng dân đen (trường hợp thằng Bờm cười nhưng không đồng ý đổi). Điều này quả là quá nhục nhã.
5. Kết luận chung hay là việc “giải mã” những tầng bậc ý nghĩa của bài ca dao Thằng Bờm
Trên cơ sở những phân tích nhằm “giải mã” lai lịch lão Phú Ông, “giải mã” lai lịch thằng Bờm; “giải mã” vì sao Phú Ông lại đem những tài sản có giá trị của mình để đổi lấy “cái quạt mo”; “giải mã” tiếng cười của thằng Bờm… có thể rút ra những kết luận “giải mã” toàn bài ca dao thằng Bờm (tùy vào mỗi góc nhìn) với những cấp độ ý nghĩa như sau:
5.1 Bài ca dao Thằng Bờm là tiếng cười châm biếm, đả kích những hạng người giàu có nhưng tham lam, ngu dốt và đặc biệt là rất hay khoe khoang, vênh váo, tự đắc, mình là số một trong thiên hạ – một dạng “trọc phú” hay “trưởng giả học làm sang” trong xã hội mà Đông Tây, kim, cổ đều có.
5.2 Trong cái nhìn của người xưa, bài ca dao Thằng Bờm ở góc độ nào đó phản ánh sự bất công trong xã hội (Phú Ông – đại diện cho bọn “trọc phú” giàu có lắm bạc nhiều tiền sẵn sàng vung ra mua lấy cái danh hão nhằm thỏa mãn cho những thú vui ích kỷ của bản thân trong khi đó Thằng Bờm – đại diện cho những con người nghèo khó cơ cực không có một tài sản gì quý giá). Tiếng cười của thằng Bờm ở cuối bài ca dao là tiếng cười để tác giả dân gian qua đó bộc lộ những khát vọng, những ước mơ chính đáng về một cuộc sống, một xã hội công bằng, dân chủ.
5.3 Qua cuộc mặc cả giữa Phú Ông và thằng Bờm, bài ca dao thể hiện một triết lý nhân sinh có ý nghĩa muôn thuở của người xưa đó là: trong cuộc sống không phải anh có tiền, có của là anh muốn gì cũng được, mua gì cũng được, đổi gì cũng được, làm gì cũng được...
5.4 Nhìn ở góc độ văn hóa, bài ca dao Thằng Bờm một lần nữa khẳng định chiều sâu của vẻ đẹp trí tuệ và tư duy dân gian sâu sắc và độc đáo của người xưa: những kẻ mà trong cuộc sống tuy giàu về tiền bạc, của cải nhưng chưa chắc đã “giàu” về trí tuệ, ngược lại những người nghèo khó về tiền bạc nhưng có khi họ rất “giàu” về trí tuệ. Hay nói cách khác đó là cách nói “nhân vô thập toàn” của người xưa.
Cần Thơ, 13/2/2011
Nguyễn Trọng Bình
--------------------------------
Ghi chú: Bài đã đăng trên tạp chí Kiến thức ngày nay 

[1] Thằng Bờm có cái quạt mo – Bài của Lê Tiến Dũng in trên lần đầu trên Kiến thức ngày nay năm 1997 được chúng tôi trích dẫn lại từ trang web khoavanhoc-ngonngu.edu.vn của Khoa văn học và ngôn ngữ, trường Đại học KHXH& Nhân văn TP. Hồ Chí Minh.
[2] Một cách hiểu về bài ca dao thằng Bờm – Bài của Đỗ Minh Tuấn in lần đầu trên Văn nghệ trẻ được chúng tôi trích dẫn lại từ trang web www.suutap.com.

Hiểu thêm một trong những bài ca dao hay nhất Việt Nam
từ góc độ thi pháp (ST)


Đó là bài:
Mình nói dối ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò
Con mình những trấu cùng tro
Ta đi xách nước rửa cho con mình
 Bài ca dao này có nhiều dị bản. Có bản viết câu đầu là: Mình nói với ta mình hãy còn son, có bản viết câu cuối là Ta đi gánh nước rửa cho con mình. Có bản lại thêm hai câu: Con mình vừa đẹp vừa xinh / Một nửa giống mình, nửa lại giống ta. Bản mà tôi sử dụng là bản được chọn từ cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (NXB Văn học, tái bản năm 2003). Bài ca dao này từng đượcTạp chí Thế giới trong ta của Hội Tâm lý - Giáo dục Việt Nam chọn để tổ chức cuộc thi bình ca dao năm 2000, với lượng người tham gia khá lớn.
Bốn câu ca dao tạo nên một chỉnh thể tác phẩm. Có bố cục rõ ràng, có nhân vật, có cốt truyện, giống như một "truyện ngắn mi ni". Nhà nghiên cứu - phê bình văn học Vương Trí Nhàn là người đầu tiên phát hiện điều này, và lấy đó làm minh chứng cho việc có thể tập viết truyện ngắn từ ca dao, đã viết thành một bài in trong cuốn Sổ tay truyện ngắn của ông.
Nhìn chung, các tác giả từng nghiên cứu, khai thác nội dung, nghệ thuật bài ca dao này thường sử dụng các phương pháp tiếp cận theo lối truyền thống, hoặc xem như một tác phẩm thơ trữ tình hiện đại. Vận dụng lý thuyết thi pháp văn học dân gian, có thể giải mã thêm được một số điều giúp người đọc hiểu và cảm nhận bài ca dao một cách sâu sắc hơn
Đúng là bài ca dao giống như một câu chuyện. Tác giả đồng thời là người kể chuyện - người trần thuật, ở ngôi thứ nhất, xưng "ta". Người đối thoại ở ngôi thứ hai là nhân vật cô gái, được gọi là "mình". Xin lưu ý rằng, cặp xưng hô "ta - mình" có vẻ khá quen thuộc trong ca dao - có lẽ  bởi câu  "mình về có nhớ ta chăng / ta về ta nhớ hàm răng mình cười" được nhiều người thuộc - nhưng theo thống kê tại nhóm các bài thơ thuộc đề tài đề tài tình yêu nam - nữ mà nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan tập hợp trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, thì chỉ có 6/385 bài sử dụng cặp "ta - mình" trong đối thoại, còn phần lớn là dùng cặp xưng hô "anh - em", hoặc nói theo kiểu lửng lơ, ẩn chủ ngữ - vị ngữ, hoặc độc thoại. Trong đời sống thực tế, việc sử dụng cặp từ xưng hô "ta - mình" trong quan hệ nam - nữ, là khi tình cảm riêng tư đã trở nên hết sức thân thiết, thường là dùng trong hôn nhân. Vậy nên có thể hiểu rằng, mối quan hệ giữa chàng trai và cô gái trong bài đã rất thân thiết, thuộc loại "trên mức tình cảm".
Câu mở đầu: Mình nói dối ta mình hãy còn son, đưa ra một trạng huống: chàng trai phát hiện ra trong mối thâm tình ấy có điều khuất tất. Cô gái đã nói dối chàng về tình trạng hiện tại của mình, rằng cô ấy còn son, nhưng thực ra không phải. Đây là lời khẳng định của chàng trai, nghĩa là đã có sự thẩm định sự thật. Câu mở đầu  tạo ra một sự kiện, một tình huống "có vấn đề", đòi hỏi bài ca dao phải được tiếp tục cái "văn mạch" mà nó đã tạo ra. Đồng thời cũng gợi nên trong đó một khoảng thời gian nghệ thuật kéo dài từ hiện tại đến quá khứ: điểm nhìn của chàng trai là ở hiện tại, chàng đang đứng ở hiện tại để khẳng định với cô gái về một điều cô ấy đã "nói dối chàng" trong quá khứ.
Cơ sở để chàng trai khẳng định cô gái đã nói dối mình là: Ta đi qua ngõ thấy con mình bò. Vậy là câu ca dao thứ hai đưa ra một thông tin minh định cho thông tin ở câu thứ nhất, và đưa ra một nhân vật mới, nhân vật "con mình". Một điều đáng chú ý là, trong nhóm các bài ca dao về đề tài tình yêu nam - nữ được nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan tập hợp trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, đây là bài duy nhất có nhân vật "con", tham gia với tư cách là "người trong cuộc", hơn thế, lại là một nhân tố rất quan trọng, có thể quyết định sự tồn tại của chuyện tình yêu giữa "ta" và "mình". Nhưng trước hết, nhân vật "con mình" xuất hiện như một nhân chứng khẳng định rằng, cô gái đã từng "nói dối" chàng trai. Nhân vật "con mình" còn rất nhỏ, bởi nó còn ‘bò" chứ không đi, không chạy, không chơi... ngoài ngõ. Câu ca dao thứ hai còn mở ra một không gian xác định, đó là ngõ nhà cô gái. Cái ngõ vốn là hình ảnh rất quen thuộc trong ca dao, "Chiều chiều ra đứng ngõ sau / hai tay rũ xuống như tàu chuối te", "Chiều chiều ra đứng ngõ sau / trông về quê mẹ ruột đau chín chiều". Ngõ là cái gạch nối giữa không gian riêng của cá nhân, gia đình với không gian cộng đồng, không gian thiên nhiên, bởi vậy nó có ý nghĩa như một giới hạn. Ở cái giới hạn ấy, mọi suy nghĩ cảm xúc của con người thường được tích tụ và bộc lộ trước khi bước từ không gian này ra / vào không gian kia. Không gian của chàng trai là không gian bên ngoài cái ngõ, và trong ngõ là không gian riêng của cô gái, ở đó có cuộc sống riêng tư của cô mà chàng đang khám phá và cô đã một phần chia sẻ. Ta có thể hiểu rằng chàng trai vô tình đi qua ngõ nhà người yêu, nhưng cũng có thể hiểu rằng, chàng trai, trong nỗi thương nhớ "như đứng đống lửa, như ngồi đống than", đã đi qua ngõ để mong nhìn thấy bóng hình quen thuộc, cho thoả nỗi nhớ nhung ấy, "người buồn ra ngõ đứng trông / ngõ thì thấy ngõ nhưng không thấy người". Cái ngõ - ranh giới ấy, hàm chứa niềm khao khát được bước qua. Nhưng người mà chàng trai nhìn thấy, lại là... con của người yêu mình. Khi nói rằng, ta đi qua ngõ thấy con mình mình bò, nghĩa là chàng trai đã có cơ sở để khẳng định rằng đứa bé đó không phải là con người khác, mà là con của cô gái. Vậy là không gian - thời gian nghệ thuật bài thơ mở rộng thêm một tầng nữa, đó là khoảng không gian - thời gian mà chàng trai thực hiện việc "thẩm định" để có thể chắc chắn đưa ra lời khẳng định trên.
Vậy là thấp thoáng đâu đó một người đàn ông nữa, không hiện ra ở một câu, một chữ nào trong bài, nhưng buộc chàng trai và người đọc phải suy ngẫm tới, đó là nhân vật cha của "con mình". Nội điều đó thôi cũng buộc chủ thể và người đọc phải đặt mình vào một không gian tinh thần mới, đó là trường liên tưởng. Ở đó, ta tha hồ phán đoán, truy tìm xem người cha của đứa bé là ai, đã từng hay vẫn đang là chồng cô gái, là chủ nhân ngôi nhà sau cái ngõ kia? Vì sao cô gái lại nói dối chàng trai? Và theo logíc tâm lý thông thường, trước một sự thật hiển nhiên là cô gái đã nói dối chàng, tình yêu chân thành của chàng đã bị xúc phạm, chàng trai có thể và có quyền bỏ đi ngay lập tức. 
Nhưng dường như điều chúng ta đang suy nghĩ không còn là điều chàng trai quan tâm, nghĩa là thời điểm hiện tại của cuộc đối thoại giữa chàng trai và cô gái không chỉ còn là sự thăm dò. Bởi chàng không hỏi cô những câu mà chúng ta vừa hỏi nhau. Chàng vẫn tiếp tục mạch kể chuyện của mình:
            Con mình những trấu cùng tro.
Hình ảnh đứa bé hiện ra rõ nét hơn. Nó bò lê trong sân hoặc ra ngõ, lấm lem trong tro trấu. Sự lấm lem chắc chắn là do thiếu sự chăm sóc của người lớn ấy cho ta một phán đoán rằng, nó là thành viên trong một gia đình nghèo túng. Không gian nghệ thuật được mở về phía ngôi nhà, chắc cũng lấm lem như chủ nhân tí hon của nó. Giữa hai câu 2 và 3 là một sự thay đổi điểm nhìn trần thuật, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, để rồi "room" vào hình ảnh đứa bé lấm lem đang lê la một mình.
Và rồi một kết thúc bất ngờ xảy ra:
            Ta đi xách nước rửa cho con mình.
Ta tin rằng đã có một cuộc giằng co tâm lý xảy ra trong chàng trai, giữa việc quay lưng đi theo hướng khác và việc bước vào cái ngõ ấy. Cuộc giằng co đã kết thúc bằng việc chàng trai đã quyết định bước qua cái ranh giới vật chất giữa hai không gian là cái ngõ, bước qua cái ranh giới tinh thần giữa lòng tin yêu và tự trọng bị xúc phạm vì sự dối trá của cô (mà có thể là một dối trá đáng thương?), với sự thương cảm đứa bé nhem nhuốc đang lê la trong ngõ kia. Và một hành động cao thượng, nhân hậu đã được thực hiện: chàng trai đi xách nước rửa cho đứa bé.
Toàn bộ bài ca dao vẫn là lời kể về một chuỗi sự kiện đã xảy ra trong quá khứ. Trong lời kể ấy không có một từ, một ngữ nào nói về tình cảm của chàng trai với cô gái, sau những gì đã xảy ra. Nhưng vẫn toát lên sự ấm áp tình người, sự chân thành chia sẻ của chàng. Nếu như ở câu đầu ta nhận thấy có hàm ý trách móc, thì ở hai câu 3 và 4, sự trách móc ấy đã nhường chỗ cho lòng cao thượng, vị tha. Cho dù câu 6 đầu tiên đã bị biến thể, nhưng nhịp 2/2  của toàn bài cho thấy sự bình tâm, nhẹ nhàng trong cách kể chuyện của chủ thể lời nói. Bố cục toàn bài hết sức chặt chẽ, không thừa dù chỉ một từ. Cũng không có tính từ để nhấn mạnh một sự việc hay hành động nào, cho thấy tất cả diễn ra một cách hết sức tự nhiên. Trong toàn bài không có dấu hiệu nào cho phép ta có thể phán đoán về tình cảm, thái độ hiện tại cô gái đối với chàng trai, mà chỉ phán đoán thông qua cách hành xử của chàng trai. Một điều cũng đáng chú ý là toàn bài có 30 từ, thì hình ảnh "con mình" được nhắc lại đến 3 lần, chiếm 6 từ. Sự lặp lại ấy khiến cho nhân vật thứ ba nổi hẳn lên, như là nhân vật trung tâm. Đó cũng là trung tâm của các ứng xử cá nhân trong câu chuyện tình cảm này. Bài ca dao kết thúc theo lối mở cho người đọc cơ hội được quyền suy đoán câu chuyện sẽ đi theo hướng nào. Và cũng được quyền hy vọng một kết thúc có hậu, bởi hình ảnh đứa bé nhọ nhem được chăm sóc đã tôn lên nét đẹp, sự cao cả trong tâm hồn chàng trai, xem như sự dối lừa kia đã có thể được thứ tha (vì một lý do nào đấy mà họ không cần hoặc không muốn nói đến nữa). Đó cũng là thông điệp trong trẻo về Tình Người thông qua tình yêu đôi lứa mà các tác giả dân gian muốn gửi gắm qua bài ca dao được xem là một trong những bài hay nhất trong kho tàng ca dao Việt Nam này./.