Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012


Những sai lầm thường gặp khi làm bài thi môn Văn


Nhiều năm dạy môn Ngữ văn, chúng tôi thấy những sai sót phổ biến thường gặp trong các bài thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, xin nêu ra để các “sĩ tử” rút kinh nghiệm.


Kể lại cốt truyện, “diễn nôm” bài thơ      
        Đối với những tác phẩm văn xuôi thường có yêu cầu phân tích nhân vật hay một vấn đề nào đó, thế là các sĩ tử tha hồ kể lể. Mặc dù yêu cầu của đề là cảm thụ, đánh giá chứ không phải là kể lại câu chuyện. Nhiều bài thi rất dài, nhưng không có ý, mà chủ yếu là thí sinh khoe trí nhớ của mình, kể lại chuyện, thậm chí còn thêm thắt, chẳng khác gì “tra tấn” giám khảo.            
      Đề yêu cầu phân tích giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Chí Phèo” thì thí sinh hầu như từ đầu đến cuối bài vanh vách kể lại cốt truyện, thậm chí còn trổ tài học thuộc trích luôn một vài câu nguyên văn mà chẳng có ý nghĩa gì. Cũng vậy, đề yêu cầu phân tích tình huống truyện của “Vợ nhặt” thì thí sinh nhẩn nha kể lại luôn câu chuyện. Đành rằng có trí nhớ tốt là đáng ghi nhận, song yêu cầu của người ra đề là muốn kiểm tra xem thí sinh ấy hiểu câu chuyện như thế nào, trình bày rõ ràng về một vấn đề cụ thể từ câu chuyện ấy, chứ không phải là kể lại câu chuyện một cách chán ngắt. Các chi tiết cần được dẫn ra một cách thông minh, để làm sáng tỏ luận điểm. 
     Đối với tác phẩm thơ thì không ít thí sinh sa vào “diễn nôm” lại ý nghĩa của những câu thơ. Tuy cần phải cắt nghĩa, giảng giải để hiểu rõ thêm, để thấy được những đặc sắc riêng của câu thơ, bài thơ, nhưng không có nghĩa là thí sinh chỉ việc diễn nôm lại ý nghĩa bài thơ. Câu “Câu thơ này cho thấy, đoạn thơ này nói lên, bài thơ này nghĩa là….”…đã trở thành “công thức” trong bài làm của không ít sĩ tử. Bài thơ vốn hay, qua tài “chế biến” của “sĩ tử” bỗng trở nên nôm na, sống sượng.

So sánh: “việc nhà thì nhác…”      
     Nhiều thí sinh khi làm bài đã vận dụng thao tác so sánh. Đây là phương pháp sẽ đạt hiệu quả cao nếu như biết xử lí phù hợp. So sánh khiến cho vấn đề được mở rộng, thú vị hơn, chứng tỏ người viết có kiến thức, tư duy. Ví dụ khi phân tích về bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng thì so sánh, liên hệ với bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, hai bài thơ cùng viết về những chiến sĩ Vệ quốc thời kì đầu của kháng chiến chống Pháp. So sánh nhân vật Chí Phèo với các nhân vật chị Dậu, lão Hạc…Tuy nhiên, không ít thí sinh trong khi so sánh đã rơi vào tình trạng “việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng”, nghĩa là sa đà vào phân tích nội dung liên hệ, mở rộng, mà lơ là phần nội dung chính của bài làm. Hậu quả là bài tuy có vẻ bay bổng, “uyên bác”, song vì vấn đề chính chưa được trình bày đầy đủ, sâu sắc, nên kết quả vẫn không cao.    
  
Gọi tên nhân vật không phù hợp
     Nhiều sĩ tử vẫn hồn nhiên gọi nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao là “hắn”. Có bạn lại gọi nhân vật người phụ nữ “vợ nhặt” trong truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân hay nhân vật Thị Nở trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao là “thị”. Các bạn tưởng đúng, vì chính tác giả cũng viết như thế. Chỉ nhà văn có thẩm quyền gọi tên nhân vật như vậy, xuất phát từ phong cách hài hước, và có ý đồ nghệ thuật riêng. Còn nếu sĩ tử (độc giả) cũng gọi như vậy, thì vô hình trung đã mắc lỗi thiếu lịch sự; hoá ra sĩ tử coi thường nhân vật? Nên gọi một cách lịch sự, khách quan là nhân vật, hay người phụ nữ, người đàn bà, hoặc chỉ gọi tên nhân vật (Chí Phèo)…
    Một số sĩ tử nhầm lẫn giữa nhà thơ với nhân vật trữ tình nên viết “Về với nhân dân, Chế Lan Viên vô cùng hạnh phúc, xúc động” (cảm nhận về bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên), “Hàn Mặc Tử ngỡ ngàng trước cái đẹp của Vĩ Dạ”…Đó là cách nói không chính xác, không thể gọi tên tác giả, mà phải nói là “nhân vật trữ tình”.
   Cách gọi tên các nhân vật trong tác phẩm đòi hỏi sự tinh tế, lịch lãm của người đọc, mà các giáo viên cần hướng dẫn thường xuyên trong các bài giảng. Do khuôn khổ bài viết nên không thể nói hết được, nói chung nên chú ý nguyên tắc khách quan, có văn hoá. 

 Thích giáo huấn, sướt mướt                  
    Kết thúc bài phân tích về “Rừng xà nu”, một thí sinh đã “tích hợp” luôn một bài học về lòng yêu nước, lí tưởng của thanh niên ngày nay. Một thí sinh sau phần nêu cảm nhận về bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh cũng “lên lớp” giám khảo một bài học về sự trong sáng, chung thuỷ của tình yêu, nhất là trong thời đại kinh tế thị trường có nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội. Đành rằng đọc xong tác phẩm, mỗi người sẽ rút ra được những kinh nghiệm, bài học riêng, song không nhất thiết phải thể hiện “lập trường tư tưởng” trong bài văn.
    Không ít thí sinh lại thiên về xu hướng “sến” với các từ “Ôi, Than ôi, Biết mấy…” xuất hiện với tần suất khá cao trong bài. Khi yêu cầu bình luận về một câu danh ngôn về tình bạn, thí sinh viết “Các bạn ơi, tình bạn là thiêng liêng, cao quý lắm!”. Xin thưa, bài văn nghị luận là văn bản thuộc phong cách khoa học, cần chú trọng yêu cầu chính xác, khách quan, có bằng chứng xác đáng, lôgic. Người viết (thí sinh), và người đọc (giám khảo) là bình đẳng. Vì vậy, viết “các bạn ơi”, “các bạn ạ”, “các bạn biết không” hay “kính thưa thầy cô”…đều không phù hợp. Và không phải là thêm vào mấy từ “Ôi, biết bao, biết mấy”…là bài văn có cảm xúc, hay hấp dẫn hơn. Giám khảo sẽ dễ dàng phân biệt cảm xúc, tình cảm thật hay là tình cảm có tính chất “hô khẩu hiệu” của thí sinh.   
               
 Chưa nắm  được kết cấu của bài nghị  luận xã hội
    Từ năm 2009 trong đề thi Ngữ văn có câu nghị luận xã hội (30% số điểm). Đa số thí sinh mất nhiều điểm ở câu tưởng chừng như “dễ ăn” này, bởi vì chưa biết cấu trúc bài làm.         
    Bài nghị luận xã hội có hai dạng: Nghị luận (bàn bạc) về một tư tưởng, đạo lý, nghĩa là trao đổi, thảo luận về một ý kiến, một quan điểm. Ví dụ: Suy nghĩ về quan điểm “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” hay “Học thầy không tầy học bạn” hoặc “Hạnh phúc là đấu tranh”... Dạng thứ hai là nghị luận về một hiện tượng đời sống, yêu cầu người viết trình bày nhận thức, quan điểm về những hiện tượng đáng lưu ý, “có vấn đề” trong đời sống. Ví dụ suy nghĩ về hiện tượng học sinh nữ đánh nhau; suy nghĩ về hiện tượng nhiều bạn trẻ đi học ở nước ngoài không trở về Việt Nam làm việc; về hiện tượng tệ nạn xã hội trong giới trẻ…                 
     Dạng thứ nhất (Nghị luận về tư tưởng, đạo lý) cấu trúc bài làm luôn có ba phần:
- Giải thích, nêu vấn đề cần nghị luận.
- Bàn luận: Ý nghĩa, mặt đúng, mặc tích cực; mặt tiêu cực, cần bổ sung…
- Bài học nhận thức và hành động: Nên suy nghĩ thế  nào, hành động ra sao, liên hệ bản thân. 
  Dạng thứ hai ( nghị luận về hiện tượng đời sống) cấu trúc cũng có ba phần:
- Nêu ý nghĩa của hiện tượng: Hiện tượng đó phản ánh điều gì, xu hướng gì.
- Giải thích nguyên nhân hiện tượng.  
- Đề xuất giải pháp, phương hướng khắc phục, cách ứng xử.
  Nhiều thí sinh mất điểm vì viết lan man, bài dài nhưng không có ý. Nếu trình bày đúng cấu trúc như trên, bảo đảm suy nghĩ không chệch hướng, và dễ đạt điểm cao. Bài nghị luận xã hội người viết có quyền trình bày quan điểm, tư tưởng, kinh nghiệm sống riêng, song để thuyết phục được người đọc thì bài văn bao giờ cũng phải đi theo một mạch tư duy sáng rõ, mạch lạc.
   Xin “bật mí” thêm, muốn làm tốt kiểu bài nghị luận xã hội, thí sinh nên quan tâm đến những vấn đề xã hội, những quan niệm về lí tưởng, hạnh phúc, tình yêu, tình bạn…và tạo cơ hội tranh luận, “vặn vẹo” đúng sai, giải thích nguyên nhân, nêu quan điểm, giải pháp. Lâu dần sẽ rèn luyện khả năng nhận thức vấn đề nhanh, tranh biện sắc sảo, thuyết phục. 

  Mở bài, sao khó thế
   Nhiều thí sinh cảm thấy khó khăn khi viết mở  bài. Nhiều bạn muốn có một mở bài ấn tượng, “hoành tráng” theo kiểu mở bài gián tiếp, nhưng tốn nhiều thời gian mà kết quả lại không như ý. Mở bài gián tiếp nếu thành công sẽ tạo ấn tượng tốt với giám khảo, và đem lại chất văn cho bài. Tuy nhiên nếu người viết non tay thì sẽ bị phản tác dụng, rơi vào lan man, uyên bác rởm. Mà nếu mở bài hay nhưng thân bài dở thì cũng chẳng ích gì. Tốt nhất là nên mở bài trực tiếp, giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, vấn đề theo kiểu “mở cửa thấy núi” (khai môn kiến sơn). Mở bài có hay đến mấy cũng chỉ được tối đa 0,5 điểm, nên cần chú trọng dồn “nội lực” vào phần thân bài.

  “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”
   Những lỗi không đáng có này năm nào cũng có người nhắc nhở, nhưng nhiều thí sinh vẫn không chú ý khắc phục. Đó là viết chữ quá nhỏ, nét quá mờ chẳng khác gì tra tấn giám khảo. Nhiều thí sinh không xuống hàng, cả bài chỉ một đoạn văn, làm giám khảo “theo” đọc đứt cả hơi. Bài văn nghị luận bao gồm nhiều ý (luận điểm), mỗi ý như vậy nên tách thành một đoạn văn, vừa lôgic, vừa dễ theo dõi. Có thí sinh khi trích dẫn câu thơ, đoạn thơ, hay câu văn lại viết một hai chữ rồi thêm dấu ba chấm, coi như giám khảo đã biết rồi, hoặc cẩu thả đến mức trích dẫn sai. Dĩ nhiên là giám khảo đã biết, nhưng làm vậy là phi khoa học. Nhiều bạn lại không chừa lề, bài vừa nhìn rườm rà mà không có chỗ cho giám khảo cho điểm chi tiết. Những việc “tiết kiệm” như thế không được giám khảo hoan nghênh, và dĩ nhiên là sĩ tử sẽ thiệt thòi. Còn nếu sĩ tử nào vẫn mắc lỗi kiểu “chưa sạch nước cản” như sai chính tả, ngữ pháp, lạc đề, chữ như gà bới…thì thi rớt là cái chắc.  

TRẦN QUANG ĐẠI
( Theo Dân trí)

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012


Người đàn bà ngồi đan
Ý Nhi

Giữa chiều lạnh 
Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ 
Vừa nhẫn nại vừa vội vã 
Nhẫn nại như thể đó là việc phải làm suốt đời 
Vội vã như thể đó là lần sau chót 

Không thở dài 
không mỉm cười 
Chị đang giữ kín đau thương 
Hay là hạnh phúc 
Lòng chị đang tràn đầy niềm tin 
Hay là ngờ vực 

Không một lần nào chị ngẩng nhìn lên 
Chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt 
Hay sau buổi chia ly 
Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu 
Trong đôi mắt kia là chán chường hay hy vọng 

Giữa chiều lạnh 
Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ 
Dưới chân chị 
Cuộn len như quả cầu xanh 
Đang lăn đi những vòng chậm rãi.


1/1984

Mẹ
Nguyễn Ngọc Ánh

   Cành bàng thả lá heo may 
Mẹ gầy, cái dáng khô gầy cành tre 
   Gót chai nứt nẻ đông hè 
Ruộng sâu bấm mãi đã tòe ngón chân 

   Mẹ ngồi vá áo trước sân 
Vá bao mong ước, tay sần mũi kim 
   Bát canh đắng là chân chim 
Lẫn vài con tép Mẹ tìm dành con 

   Co ro một mảnh chăn mòn 
Tàn đêm giấc ngủ hãy còn ngoài chăn 
   Mẹ gom giẻ rách, giấy manh 
Mặc đôi quang thủng giữ lành tiếng rao 

   Áo nâu phơi vẹo bờ rào 
Cái phận đã bạc còn cào phải gai 
   Quả cà cõng mấy củ khoai 
Con thút thít, Mẹ nghẹn hai ba lần 

   Tối về đến lớp bình dân 
I tờ nhặt được đôi vần lại rơi 
   Cha con trời gọi về trời 
Chái nhà mưa dột, ướt lời ru thương 

   Tiễn con ra chốn chiến trường 
Gạt thầm nước mắt mong đường con khô 
   Hai tay hết sẻ lại cho 
Còn phần Mẹ - một thân cò qua sông...


1994

Tự hát
Xuân Quỳnh

Chả dại gì em ước nó bằng vàng, 
Trái tim em anh đã từng biết đấy. 
Anh là người coi thường của cải, 
Nên nếu cần anh bán nó đi ngay. 

Em cũng không mong nó giống mặt trời, 
Vì sẽ tắt khi bóng chiều đổ xuống, 
Lại mình anh với đêm dài câm lặng, 
Mà lòng anh xa cách với lòng em. 

Em trở về đúng nghĩa trái tim, 
Biết làm sống những hồng cầu đã chết, 
Biết lấy lại những gì đã mất, 
Biết rút gần khoảng cách của yêu tin. 

Em trở về đúng nghĩa trái tim em, 
Biết khao khát những điều anh mơ ước, 
Biết xúc động qua nhiều nhận thức, 
Biết yêu anh và biết được anh yêu. 

Mùa thu nay sao bão giông nhiều ? 
Những cửa sổ con tàu chẳng đóng ? 
Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm ? 
Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh. 

Em lo âu trước xa tắp đường mình, 
Trái tim đập những điều không thể nói, 
Trái tim đập cồn cào cơn đói, 
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn. 

Em trở về đúng nghĩa trái tim em, 
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có, 
Vẫn ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa, 
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi.


Dấu chân qua trảng cỏ
Thanh Thảo

Buổi chiều qua trảng cỏ voi 
Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh 
Gió nghiêng ngả giữa màu xanh 
Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh mang 

Lối mòn như sợi chỉ giăng 
Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân 
Dấu chân ai đọc nên vần 
Nên nào ai biết đi gần đi xa. 
Cuộc đời trải mút mắt ta 
Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường 

Những người sốt rét đang cơn 
Dấu chân bấm xuống đường trơn, có nhoè?... 

Chiếc bòng con đựng những gì 
Mà đi cuối đất mà đi cùng trời 
Mang bao khát vọng con người 
Dấu chân nho nhỏ không lời không tên 

Thời gian như cỏ vượt lên 
Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua 
Ai đi gần ai đi xa 
Những gì gợi lại chỉ là dấu chân. 

Vùi trong trảng cỏ thời gian 
Vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta 
Vẫn đằm hơi ấm thiết tha 
Cho người sau biết đường ra chiến trường...



Thứ Tư, 8 tháng 8, 2012


Nỗi niềm Thị Nở (Quang Huy)


chchip1(Thị Nở - Chí Phèo, tranh minh họa)

 

  

Người ta cứ bảo dở hơi
Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
Dở hơi nào dở hơi gì
Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình

Làng này khối kẻ sợ anh
Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
Sợ anh chửi đổng suốt ngày
Chỉ mình em biết anh say rất hiền

Anh không nhà cửa bạc tiền
Không ưa luồn cúi không yên phận nghèo
Cái tên thơ mộng Chí Phèo
Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao

Quần anh ống thấp ống cao
Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
Khen cho con tạo khéo tay
Nồi này thì úp vung này chứ sao

Đêm nay trời ở rất cao
Sương thì đãm quá trăng sao lại nhoà
Người ta mặc kệ người ta
Chỉ em rất thật đàn bà với anh

Thôi rồi đắt lắm tiết trinh
Hồn em nhập bát cháo hành nghìn năm.


Những người đàn bà gánh nước sông 

                                  - Nguyễn Quang Thiều


Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông

Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt
Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi
Bàn tay kia bấu vào mây trắng
Sông gục mặt vào bờ đất lần đi
Những đàn ông mang cần câu và cơn mưa biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Những con cá thiêng quay mặt khóc
Những chiếc phao ngô chết nổi
Những người đàn ông giận dữ, buồn bã và bỏ đi

Đã năm năm, mười năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Sau những người đàn bà gánh nước sông và lũ trẻ cởi truồng
Chạy theo mẹ và lớn lên
Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến
Con trai lại vác cần câu và cơn mưa biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Và cá thiêng lại quay mặt khóc
Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi.

Bờ sông vẫn gió 

                              - Trúc Thông


Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
người không thấy về
Xin người hãy trở về quê
một lần cuối...một lần về cuối thôi.
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một đời tóc xanh
Lệ xin giọt cuối để dành
trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha
Cây cau cũ giại hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần
Con xin ngắn lại đường gần
một lần...rồi mẹ hãy dần dần đi...

Bao giờ trở lại 

                       - Hoàng Trung Thông


Các anh đi
Ngày ấy đã lâu rồi
Xóm làng tôi còn nhớ mãi
Các anh đi
Bao giờ trở lại
Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong
Làng tôi nghèo
Nho nhỏ bên sông
Gió bắc lạnh lùng
Thổi vào mái rạ
Làng tôi nghèo
Gió mưa tơi tả
Trai gái trong làng vất vả ngược xuôi
Các anh về mái ấm nhà vui
Tiếng hát câu cười
Rộn ràng xóm nhỏ
Các anh về tưng bừng trước ngõ
Lớp đàn em hớn hở theo sau
Mẹ già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con nhỏ rừng sâu mới về
Từ lưng đèo
Dốc núi mù che
Các anh về
Xôn xao làng tôi bé nhỏ
Nhà lá đơn sơ
Nhưng tấm lòng rộng mở
Nồi cơm nấu dở
Bát nước chè xanh
Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau
Anh giờ đánh giặc nơi đâu
Chiềng Vàng, Vụ Bản, hay vào Trị Thiên
Làng tôi thắng lợi vụ chiêm
Lúa thêm xanh ngọn, khoai lên thắm vồng
Giảm tô hai vụ vừa xong
Đêm đêm ánh đuốc dân công rực đường
Dẫu rằng núi gió đèo sương
So anh máu nhuộn chiến trường thấm chi.

Bấm tay tính buổi anh đi
Mẹ thường vẫn nhắc: biết khi nào về?
Lúa xanh xanh ngắt chân đê
Anh đi là để giữ quê quán mình
Cây đa, bến nước, sân đình
Lời thề nhớ buổi mít tinh lên đường
Hoa cau thơm ngát đầu nương
Anh đi là giữ tình thương dạt dào.

Các anh đi
Khi nào trở lại
Xóm làng tôi
Trai gái vẫn chờ mong
Chờ mong chiến dịch thành công
Xác thù chất núi bên sông đỏ cờ
Anh đi chín đợi mười chờ
Tin thường thắng trận, bao giờ về anh?

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2012

Bùi Giáng
Mắt buồn
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu, bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời



Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con
Bùi Giáng
Anh Lùa Bò Vào Đồi Sim Trái Chín
Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín
Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh

Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa
Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh
Chim ngây ngất vào trong đôi mắt lả
Anh lim dim cho chết lịm hồn mình

Anh quên mất bò đương gặm cỏ
Anh chỉ nghe tiếng cọ rì rào
Có hay không ? bò đương gặm đó ?
Hay là đây tiếng gió thì thào ?
Hay là đây tiếng suối lao xao
Giữa giòng cỏ xuôi ghềnh chảy xuống ?

Mùi thoang thoảng lách lau sương đượm
Mùi gây gây gấy gấy của hương rừng
Mùi lên men phủ ngập mông lung
Không biết nữa mà cần chi biết nữa

Cây lá bốn bên song song từng lứa
Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn
Hạnh phúc trời với đất mang mang
Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ
Với người ngó ngất ngây đương nằm đó
Không biết trời đất có ngó mình không

Vĩnh Trinh - Thạch Bàn 1950

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012


 Ôn tập môn Văn cần lưu ý những nội dung gì ạ?


* Ôn tập môn Văn cần lưu ý những nội dung gì ạ? (ngyen thanh tam, 18 tuổi, thuy_linh-kute@...)
- Cô Nguyễn Kim Anh: Câu hỏi của em là toàn bộ hai cuốn sách tập I và II môn ngữ văn lớp 12. Tuy nhiên, cô có thể trả lời ngắn gọn là em phải nắm vững cấu trúc của đề: một là câu tái hiện kiến thức (2 điểm), hai là câu nghị luận xã hội (3 điểm), và câu thứ ba là nghị luận văn học (5 điểm). Thế cũng có nghĩa là em phải ôn học thuộc lòng khá nhiều, nhưng nếu nắm chắc trong quá trình học những ý chính thì việc được 5 điểm không khó.
Cụ thể em nên hệ thống hóa kiến thức bằng cách lập bảng các bài học. Ví dụ: chia theo thơ gồm có các bài thơ nào theo thứ tự chương trình và văn là những bài nào. Sau đó rà soát lần lượt ôn theo trình tự nhất định, tránh nhảy cóc rồi quay lại sẽ lẫn lộn.

* Cho em hỏi phương pháp ôn tập và thi đạt kết quả tốt môn Ngữ văn cả ôn thi tốt nghiệp và đại học.  Môn Văn thì nhiều dẫn chứng và có những phần giáo viên lướt qua hoặc không dạy ( như những nhân vật phụ). Vậy khi ôn thi, em có nên bỏ qua những phần đó hay không? Những phần Bộ giảm tải thì đề đại học có ra không? (Phạm Đình Bảo, 18 tuổi, pham_daithieugia@...)
 - Cô Nguyễn Kim Anh: Thứ nhất, yêu cầu của hai kỳ thi khác nhau nên không thể một công đôi việc hoàn toàn, song nếu ôn tốt cho kỳ thi tốt nghiệp thì việc ôn thi đại học sẽ nhàn hơn rất nhiều. Nếu ôn tốt nghiệp là những nhân vật chính thì ở ôn thi đại học sẽ bổ sung cả những nhân vật phụ và những chi tiết nghệ thuật đặc tả trong tác phẩm sẽ được bình sâu ở kỳ thi đại học.
Thứ hai, cần có cách để nhớ dẫn chứng. Đó không hoàn toàn là học thuộc lòng những đoạn văn dài nhưng các em buộc phải nhớ những câu hoặc cụm từ tiêu biểu. Ví dụ: khi nói về vẻ đẹp của cô Mị, tác giả chỉ nói gián tiếp "trai đến đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị". Câu này phải nhớ. Song mẹo nhớ là nên đi cùng với hình ảnh trong hình dung thì bài sẽ đọng hơn. Tuy nhiên, có lúc ngồi làm bài, nếu không biết mình nhớ có chính xác không, thì không nên đưa vào ngoặc kép. Như trường hợp trên, có học sinh viết là "đầu giường Mị" - gây hiểu nhầm - hay lỗi nhẹ hơn là "đầu phòng Mị" thì vẫn phải bỏ dấu ngoặc kép. Khi đó là văn của người viết bài, sẽ đỡ lo bị trừ điểm.
Những phần Bộ giảm tải, chắc chắn sẽ không có trong một câu hỏi chính thức của đề thi tốt nghiệp cũng như đại học. Nhưng môn Văn không thể bỏ qua kỹ năng liên tưởng, liên hệ. Nếu học sinh có được kiến thức từ những bài đã được giảm tải, chắc chắn sẽ thuyết phục giám khảo hơn nhiều. Bài văn sẽ phong phú và cho thấy người học chịu khó rộng mở, thu nhận kiến thức. Người học đối phó không thể có bài viết như vậy. Tôi đã từng đi chấm thi nhiều, tôi luôn trân trọng các bài thi có phần mở rộng, liên hệ, sáng tạo. Các đồng nghiệp khác của tôi đều như thế. Nhất là trong trường hợp chấm nhiều bài, thì bài nào có nét riêng sẽ được đánh giá cao hơn.

 Thưa cô, học sinh trung bình (dở môn Văn) nên tập trung vào phần nào trong ba phần của để thi? (thanhthuythixdua@...)
- Cô Nguyễn Kim Anh: Dù dở thế nào thì em cũng biết mình có khả năng phân tích thơ hơn hay phân tích văn hơn. Nếu đâu là điểm chưa mạnh thì lúc này "đầu tư" vẫn kịp. Ví dụ: đã từng có những học sinh học lệch văn hoặc thơ, và nghĩ rằng sẽ chọn ở câu 5 điểm làm một trong hai thể loại này. Tuy nhiên, cách đây mấy năm đề thi cả hai câu đều là văn. Vì vậy không nên tự chặn con đường của mình.
Câu nghị luận xã hội không bó hẹp kiến thức nên học sinh cũng dễ có được điểm 1,5 đến 2 điểm miễn là biết suy luận và có hiểu biết từ cuộc sống. Ví dụ: với đề hỏi về tác dụng của việc đọc sách. Các em hoàn toàn không phải ôn tập song cần phải là người từng đọc sách, từng mê sách thì chắc chắn bài làm sẽ thuyết phục được người chấm. Cũng có trường hợp chỉ nghe thầy cô và cha mẹ nói về tác dụng của đọc sách mà em viết vào bài làm cũng vẫn có thể đạt điểm không tệ. Những câu yêu cầu kiến thức xã hội không được bỏ qua hay xem nhẹ.
Cũng cần lưu ý có câu trong đề không nói thẳng mà mượn một câu ví von, so sánh, ...thì phải có thao tác quy đổi. Ví dụ: "Khi ta tặng bạn hoa hồng, tay ta cũng vương mùi hương." Có thể hiểu là đề yêu cầu viết về tình bạn và sự giúp đỡ, hy sinh cho tình bạn.

Thưa cô cho em hỏi, học môn văn như thế nào để có thể được 5 điểm. Đối với em kiếm điểm 5 môn này cũng không dễ? Đề thi có 3 phần, dài quá, thời gian không đủ để làm hoàn chỉnh được. Xin cô chỉ cách học và kinh nghiệm làm bài thi tốt nghiệp môn Văn ạ? (hongdao _truongthi@...)
- Cô Nguyễn Kim Anh: Đầu tiên, cần lập ý sơ lược của các câu vào tờ giấy nháp. Sau đó, canh giờ dành cho từng câu. Cụ thể: câu 1 nên dành khoảng 20 phút, câu 2 khoảng 40 phút, còn lại 90 phút cho bài văn. Tất nhiên, không cần canh chính xác từng phút, song cũng phải lưu ý vì một đặc điểm của môn Văn, kể cả với học sinh giỏi, dễ bị để cảm xúc cuốn đi.
Nhiều năm qua, với câu 3 điểm - nghị luận xã hội, học sinh thường dồn toàn bộ cảm hứng mà quên rằng đó là câu 3 điểm. Thậm chí ra khỏi phòng thi, khoe bố mẹ làm được điểm vẫn là khoe về câu 3 điểm. Muốn đạt 5 điểm thì em nên xác định không được bỏ qua cả câu trên (2 điểm) và câu dưới (5 điểm). Kể cả câu 2 điểm, mình chỉ làm được 0,5 điểm cũng viết. Các cụ có câu "Năng nhặt chặt bị". Vì ở mỗi câu chỉ nhặt ra khoảng 60% đạt yêu cầu thì em mới yên tâm được điểm 5. Lý do còn xem chữ nghĩa, lỗi chính tả và cách diễn đạt của em thế nào nữa. Chúc thành công!

Cô giáo em thường phê bình tụi em rất dễ lạc đề môn văn (tức là đề ra một đàng làm một nẻo). Nhưng em không biết cách làm sao để không lạc đề... Còn nữa, cô em cũng nói, bài thi phải có ý rõ ràng và trùng khớp với đáp án mới có điểm, sao khó quá vậy? Tụi em không có nhiều thời gian làm bài, nghĩ ra gì lo viết hết còn không kịp giờ nữa... vậy làm sao để bài làm có ý và đủ ý hả cô? (minhman_cao@...)
 - Cô Nguyễn Kim Anh: Vì học sinh thường bỏ qua việc làm nháp, lập ý văn nên dễ sa vào miên man, thiếu định hướng. Trong một bài văn có các đơn vị kiến thức yêu cầu đầu tư thời gian như nhau. Vậy mà có nội dung nhẩn nha, lại có nội dung bị qua quýt vì thiếu thời gian. Khi phân tích thơ, học trò say sưa với một câu rồi liên hệ ý thơ đó từ nhiều bài thơ khác mà quên mất đoạn thơ cần phân tích còn rất nhiều nội dung chưa chạm đến.
Trong văn xuôi, khi phân tích nhân vật Mị, học sinh say sưa miêu tả sức sống tiềm tàng và khát vọng hạnh phúc của Mị mà bỏ qua mất nỗi khổ: "sống không bằng con trâu con ngựa". Học sinh đó đã quên rằng chính việc sống khổ mà vẫn có sức sống, có khao khát thì càng tăng giá trị nhân văn cho hình tượng nhân vật.
Trên đây là những bài bị lệch nội dung do thiếu sắp xếp thời gian cho mỗi phần. Trường hợp lạc đề hẳn thì thật đáng tiếc. Chắn chắn là do em không thuộc bài, không nắm được những ý cơ bản nhất.
Đây là "mẹo": trong quá trình ôn thi, em thử ngẫm nghĩ các nhân vật trong tác phẩm thấy ai thân thân như một người quen biết thì yên tâm, còn ai hoàn toàn xa lạ, thậm chí nhầm tên, thì phải đọc lại ngay tác phẩm + vở ghi dàn ý của cô giáo và tham khảo thêm ở những cuốn sách có bài khai thác về nhân vật.
Để khỏi lẫn, cũng cần nhớ nhân vật trong giai đoạn nào của lịch sử dân tộc. Ví dụ nhân vật Tràng là trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, nhân vật Tnú là ở Tây Nguyên thời chống Mỹ, nhân vật người đàn bà trong "Chiếc thuyền ngoài xa" là thời kỳ sau chiến tranh,...

Em muốn hỏi thầy cô: làm cách nào ôn thi môn văn hiệu quả và thi đạt điểm cao? Năm nay thi văn, sử, địa em nên phân bố thời gian ôn thế nào cho hợp lý? em xin cảm ơn.(nhung dieu chua hieu, 18 tuổi, lanfthang1052003@...)
- Cô Nguyễn Kim Anh: Muốn ôn thi môn văn hiệu quả phải đảm bảo vừa ôn khái quát hệ thống tác phẩm, trong từng tác phẩm phải nhớ được những nội dung chính nhất, hệ thống nhân vật... Ngoài ra còn phải biết hành văn lưu loát, lập luận sắc sảo, có sáng tạo.
Để ôn được các môn thi, cần phải có thời gian thích hợp. Có thể chia các ngày trong tuần theo lịch: ví dụ thứ Hai ôn Toán, thứ Ba ôn Hóa, thứ Tư ôn Ngoại ngữ, những ngày còn lại ôn lần lượt Văn-Sử-Địa. Em nên biết khi nắm được kiến thức Lịch sử cũng là hỗ trợ rất tốt cho việc làm văn. Cụ thể như nhìn nhận về hoàn cảnh sáng tác, ứng xử của nhân vật trong hoàn cảnh của tác phẩm... Tuy nhiên mỗi ngày chỉ dành 60% thời gian học cho môn theo lịch, còn 40% là theo yêu cầu của thầy cô theo thời khóa biểu của lớp. Theo quy luật ghi nhớ của não, học nhắc lại nhiều lần thì sẽ khắc sâu hơn một lần học dù thật lâu.

Có người nói, phần nghị luận văn học chỉ cần học thuộc bài thầy cô giảng là có thể có điểm. Có thật vậy không cô? 
- Cô Nguyễn Kim Anh: Đúng vậy, phải thuộc bài thầy cô giảng và viết được thành văn của mình, chứ dàn ý ở trên lớp thì chưa đủ. Có nhiều giáo viên đọc cho chép bài mẫu. Nhưng môn văn là cảm hứng. Em có thích mình đơn thuần là một con vẹt không? Đó là chưa kể làm sao có thể thuộc mấy chục bài văn mẫu?

Em xin hỏi những kinh nghiệm để hệ thống kiến thức môn Ngữ văn? (Anh khoa, 18 tuổi, nhatvy0308...)
- Cô Nguyễn Kim Anh: Có hai cách chia: một là theo thể loại, hai là theo thời kỳ - giai đoạn lịch sử.
Cách thứ nhất: liệt kê các tác phẩm là thơ: "Tây Tiến", "Việt Bắc", "Đất nước", "Sóng", "Đàn ghi ta của Lor-ca". Sau đó liệt kê các tác phẩm là văn xuôi (là truyện ngắn): "Vợ chồng A Phủ", "Vợ nhặt", "Rừng xà nu", "Những đứa con trong gia đình", "Chiếc thuyền ngoài xa". Về thể loại bút ký:  "Người lái đò sông Đà", "Ai đã đặt tên cho dòng sông". Về văn chính luận: "Tuyên ngôn Độc lập", "Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc", "Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1-12-2003".
Kẻ bảng thống kê hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nhan đề, nội dung, nghệ thuật.
Giống như một người kiểm lại tài sản của mình, biết mình có bao nhiêu để quyết định gom góp làm việc hữu ích. Sau khi lập bảng, chắc chắn em sẽ biết được mình đang quen hay rất xa lạ với tác phẩm nào. Cô hy vọng số xa lạ ít thôi.
Cách thứ hai là theo thời kỳ - giai đoạn lịch sử. Ưu điểm của cách này là không nhầm lẫn nhân vật với thời đại. Văn học Việt Nam từ 1945-hết thế kỷ 20 có thể chia thành 4 thời kỳ:
1) Văn học thời kỳ kháng chiến chống Pháp: "Tây Tiến", "Việt Bắc" (Thơ); "Vợ chồng A Phủ", "Vợ nhặt" (Văn)
2) Văn học thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc: "Tiếng hát con tàu" - chương trình nâng cao (Thơ); "Người lái đò sông Đà" (Bút ký).
3) Văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: "Đất nước", "Sóng" (Thơ); "Những đứa con trong gia đình", "Rừng xà nu" (Văn).
4) Văn học thời kỳ xây dựng đất nước sau 1975: "Đàn ghi ta của Lor-ca" (Thơ), "Ai đã đặt tên cho dòng sông", "Một người Hà Nội" - chương trình nâng cao, "Chiếc thuyền ngoài xa" (Văn).

 Môn Văn khi đi thi có phải học thuộc hết chương trình hay không?(Lê Thành Đạt, 18 tuổi, ngoinhaha@...)
- Cô Nguyễn Kim Anh: Nguyên tắc ra đề là nội dung đã được học trong chương trình, vì thế học hết chương trình mới có thể vững vàng bước vào phòng thi. Song đó là với yêu cầu tối đa. Trong trường hợp học sinh không thể bao quát hết kiến thức của tác phẩm thì cũng phải nắm được kiến thức giai đoạn, kiến thức thể loại để tránh lẫn lộn. Em vẫn có thể đạt điểm 5 hoặc hơn thế nếu biết cách viết văn và nắm chắc 2/3 số tác phẩm.
Đừng nghĩ môn Văn là học thuộc, sẽ ngại. Em hãy đọc lại các tác phẩm xem mình hiểu được bao nhiêu. Nhớ được các nhân vật chính, hiểu về họ trên những nét cơ bản và nhớ được hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng cũng như nội dung của các bài thơ thì em có thể yên tâm phần nào. Môn Văn không yêu cầu chính xác từng chữ, hãy nuôi cảm xúc cho mình thì sẽ không ngại học.

* Thưa cô Kim Anh, trong quá trình làm bài Văn chúng em nên tránh những lỗi gì? (một học sinh)
- Cô Nguyễn Kim Anh: Về nội dung, học sinh thường yếu kỹ năng phân tích và xử lý đề. Các em thường mắc lỗi:
  • Kể lại nội dung tác phẩm, đôi chỗ có bình luận tùy hứng
  • Lần lượt theo từng nhân vật như bài phân tích mà không biết chỗ nào chính, chỗ nào phụ. Học sinh làm theo bài học chứ không làm theo đề
  • Suy luận về diễn biến từ tâm lý đến hành động của nhân vật như ngoài đời sống. Vì những suy luận này không phải học bài. Mặt khác, do học sinh chủ quan nghĩ văn học là tấm gương soi hiện thực một cách y nguyên mà quên yếu tố nghệ thuật của văn chương.
  • Nếu đề nêu nhận định, ý kiến để làm rõ thì ý kiến, nhận định đó cần trở đi trở lại trong bài để soi chiếu, nhấn nhá và tô đậm.
Về hình thức thì các em hay mắc những lỗi sau:
•  Mở bài quá vòng vo, quá dài, học sinh quên rằng văn mở bài là loại văn nén. Câu có tính khái quát, cảm xúc cũng chưa thể diễn tả. Cần nhớ 3 nét chính là tác giả, tác phẩm, nội dung sẽ giải quyết trong bài. Nếu muốn ấn tượng từ dẫn gợi, thu hút thì cũng cần ngắn gọn.
•  Thân bài phải chia thành các đoạn văn. Mỗi đoạn văn cần rõ chủ đề, ý bào trùm.
•  Thông thường thân bài có thể bao gồm 5-7 đoạn văn. Dù chủ quan thấy cần liền mạch đến đâu cũng cần nhớ chia nội dung bài thành các đơn vị kiến thức là yêu cầu bắt buộc về hình thức.
•  Kết bài thường vội vàng và thiếu phần mở rộng, liên hệ. Đây chính là phần tạo dư âm cho bài văn. Hãy coi một bài văn là một tác phẩm của người viết để nghĩ, mình đã tạo được ấn tượng gì, nói rõ được điều gì để thầy cô chấm bài mình có thể tiếp nhận, đồng cảm với mình?

Làm thế nào để có thể đạt điểm tốt môn Văn phần nghị luận xã hội ạ? (trần thị anh thư, 18 tuổi, pethu94@...) 
- Cô Nguyễn Kim Anh: Rất đơn giản. Mọi đề nghị luận xã hội đều chung một cách giải.
1. Giải thích khái niệm mà đề nêu, nhận ra vấn đề cần nghị luận (bàn bạc).
2. Bàn bạc: phân tích và chứng minh bằng lý luận và thực tế (ở mức độ của một học sinh).
3. Nêu theo hai chiều thuận và nghịch:
- Thuận: Nếu theo như thế thì sao? Nêu gương người tốt, việc tốt.
- Nghịch: Nếu không theo thì sao? Nêu những thực trạng cần thay đổi.
Ví dụ: đề về bảo vệ môi trường
4. Giải pháp (có thể là đề xuất giải pháp với nhà trường, gia đình, thành phố, nhà nước...)
Có một kết luận ngắn tạo dư âm cho bài.


Vừa học vừa chán môn văn


Nhiều hiện tượng trong việc dạy và học môn văn thời gian qua cho thấy môn học này ngày càng mất dần sức hút với học sinh.
Một bài văn hay, viết bằng cảm xúc thực, không giống bất cứ khuôn mẫu nào lập tức được dư luận xôn xao là “văn lạ”. Một bài văn miêu tả thực trạng môi trường học đường bị cho là ý thức kém... Những điều ấy đã cho thấy thực trạng đáng buồn trong việc dạy và học văn hiện nay.

Khiên cưỡng và dung tục hóa
Một giáo viên Trường THCS Đống Đa (Hà Nội) cho rằng, trong chương trình dạy môn văn, tác giả biên soạn có vẻ đổi mới, gắn quá khứ với hiện tại để gần gũi với học sinh (HS), nhưng có những yêu cầu hết sức khiên cưỡng, dung tục hóa và làm HS chán ngán.
Ví dụ, sách ngữ văn lớp 6, trang 134, phần luyện tập của bài Kể chuyện tưởng tượng yêu cầu: “Hãy tưởng tượng cuộc đọ sức giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh trong điều kiện ngày nay với máy xúc, máy ủi, xi măng cốt thép, máy bay trực thăng, điện thoại di động, xe lội nước”.
GS Phong Lê - nhà phê bình, nghiên cứu văn học, chỉ ra rằng trong tài liệu Hướng dẫn dạy văn lớp 12 dùng để bồi dưỡng giáo viên sử dụng phương pháp trắc nghiệm, bài Tây Tiến của Quang Dũng có câu hỏi như sau: “Vì sao tác giả viết: “Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc?”.
Câu hỏi trắc nghiệm thì thế, còn các phương án cho học sinh chọn để trả lời hoàn toàn đúng về kỹ thuật nhưng... không có một chút gì liên quan đến cái gọi là “cảm thụ văn học”: “A. Vì có nhiều chiến sĩ bị sốt rét rụng hết tóc; B. Vì có nhiều chiến sĩ cạo trọc đầu; C. Vì muốn diễn tả vẻ đẹp oai hùng của đoàn quân”?!
Tương tự, bài Rừng Xà Nu: “Bọn giặc bắn đại bác theo lệ nào? A. Mỗi ngày một lần; B. Mỗi ngày hai lần; C. Mỗi ngày ba lần; D. Tùy hứng mỗi ngày”?! Hoặc: “Rừng Xà Nu có ý nghĩa như thế nào đối với làng? A. Che chở cho làng; B. Cung cấp gỗ cho làng; C. Cung cấp củi cho làng; D. Cung cấp nước cho làng”?!

Bỏ qua sự yêu thích của người học
Bà Nguyễn Thị Như Hương - giáo viên dạy văn Trường THPT Phạm Hồng Thái, Hà Nội, cho rằng: “Đổi thang nhưng không đổi thuốc chính là tình trạng của môn ngữ văn dạy trong trường phổ thông hiện nay”.
Theo bà Hương, không ai phủ nhận những tác phẩm đưa vào giảng dạy trong nhà trường hiện nay rất hay nhưng cái khó nhất mà người trực tiếp đứng lớp mới cảm nhận được, là người học có chịu chấp nhận không. Xưa nay chúng ta bỏ qua yêu cầu HS yêu thích cho nên bao nhiêu tác phẩm chúng ta cho là hay đều trượt khỏi tâm trí lớp trẻ.
Do vậy, để giới thiệu cho HS về thời kỳ văn học cổ, quá xa xưa với thời kỳ mà HS đang sống, chỉ nên chọn giới thiệu trong sách giáo khoa những tác phẩm thật đặc sắc nhưng cũng phải phù hợp với khả năng cảm nhận, thẩm thấu của người học. Mục đích chính là để người học biết được đặc trưng văn học nước nhà qua từng thời kỳ.
Một giáo viên dẫn chứng: “Học kỳ 1 của lớp 7 chúng tôi phải dạy gần chục bài thơ cổ với văn bản Hán - Việt. Giáo viên khó mà giúp HS hiểu hết được ý nghĩa của những tác phẩm này chỉ trong thời lượng một, hai tiết học.
Ví dụ, bài Hồi hương ngẫu thư (Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê) của tác giả Hạ Tri Chương, thật sự bài thơ mang triết lý sống hết sức sâu xa của những người già thời xưa, ngay người lớn còn khó chiêm nghiệm hết ý nghĩa của nó, huống hồ là HS lớp 7”.
Chính vì vậy, GS Phong Lê đề xuất môn văn trong trường phổ thông cần đề cập tới những vấn đề chung của nhân quần, của con người, chứ không phải chỉ của một bộ phận người hoặc của một thời.
“Cách mạng, chiến tranh là chuyện lớn nhưng cũng đã trở thành lịch sử sau nhiều chục năm. Cái đó cần, nhưng phải cân đối một tỷ lệ vừa phải. Sách giáo khoa phải thay đổi bằng những nội dung mới. Nếu không sẽ tiếp tục thảm trạng học trò chán môn văn, mà đã chán thì học chỉ là đối phó”, GS Lê phân tích.

Học để đối phó
Chương trình đã vậy, cách giảng dạy của giáo viên, cách thi cử cũng là một yếu tố quan trọng không kém làm cho môn văn trở thành nặng để đối phó với HS.
Nhiều giáo viên cho rằng chỉ có yêu thích thì học trò mới có nhu cầu đọc và muốn được khám phá tác phẩm một cách thực sự. Mọi sự gượng ép chỉ khiến thầy cố thách thức trò và trò đáp lại bằng sự chống đối. Một lãnh đạo Sở GD-ĐT Hà Nội nói: “Thực tế dự giờ, tôi thấy có rất nhiều tiết văn, giáo viên cứ bắt HS đi theo đúng hướng mà mình cho là đúng, là hay”.
GS Trần Đình Sử - Tổng chủ biên sách giáo khoa ngữ văn nâng cao THPT, nhận định: “Ở trường THPT phần nhiều vẫn thực hiện lối dạy bắt người học ghi nhớ, học thuộc để ứng phó nhu cầu thi cử bởi cung cách thi cử, ra đề, soạn đáp án, chấm bài, đếm ý vẫn như cũ. Có thể giáo viên ngày nay ít “đọc chép” theo nghĩa đen, nhưng họ vẫn đọc chép dưới nhiều hình thức khác”.

Không dám xa rời sách giáo khoa
PGS Nguyễn Văn Long - nguyên Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, Khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP Hà Nội, phát biểu: “Điều đáng ngạc nhiên là từ khi thi ĐH “3 chung” (chung đợt, chung đề, chung kết quả xét tuyển - PV) đến nay, đề thi môn văn nhất thiết chỉ có thể nằm trong các văn bản ở sách giáo khoa.
Không một ai, không một trường nào lại dám đưa vào đề thi một bài văn hoặc thậm chí chỉ một đoạn thơ không có trong sách giáo khoa. Chính từ cách hiểu như thế, cách ra đề như thế, đã dẫn đến cách học thi như lâu nay.
Nghĩa là, thí sinh chỉ cần thuộc cho kỹ những đoạn phân tích, bình giảng về các tác phẩm, hay về một đoạn trong tác phẩm ấy, đã được cung cấp trong bài giảng của thầy, trong các sách văn mẫu.
Và như thế, môn văn ngày càng xa rời đời sống, không coi trọng việc phát triển năng lực của người học, còn các kỳ thi thì chủ yếu đánh giá khả năng ghi nhớ, thuộc bài, viết lại theo mẫu của thí sinh. Cách dạy học và thi như thế tất sẽ dẫn đến tình trạng chán học văn của số đông HS”.
Theo Tuệ Nguyễn - La Giang
Thanh Niên

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012


Vợ nhặt của Kim Lân, nhìn từ tình huống
1) Xác định tình huống truyện.
Câu hỏi của chúng ta :"Toàn bộ truyện ngắn Vợ nhặt xoay quanh sự kiện nào ? hay sự kiện nào đã bao trùm chi phối toàn bộ thiên truyện này ?" Sau khi lướt qua các tình tiết chính của thiên truyện này ta dễ dàng thấy rằng hạt nhân của truyện ngắn Vợ nhặt  một cuộc hôn nhân kì lạ. Và đó chính là cái "tình thế nảy ra truyện", cái tình huống của câu chuyện.
2. Phân tích tình huống truyện
2.1. Diện mạo của tình huống
Nói hôn nhân trong Vợ nhặt kì lạ, ít nhất vì ba lẽ. Một là, sự đảo lộn về giá trị : Tràng - một gã trai nghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ cư, lâu nay ế vợ, bỗng dưng "nhặt" được vợ, mà lại là vợ theo không (khác nào từ "vô giá trị" bỗng thành …"vô giá" !). Hai là, sự ngược đời : Tràng lấy vợ vào lúc không ai lại đi lấy vợ - giữa những ngày nạn đói đang lăm le cướp đi mạng sống của mỗi người. Ba là, nghịch lí : một đám cưới thiếu tất cả mà lại như đủ cả (Chỉ cần làm một so sánh nhỏ với chương "Hạnh phúc của một tang gia" trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng cũng có thể thấy ngay. Đám tang cụ Cố Tổ cực kì long trọng to tát, thừa thãi mọi hình thức, đồ lễ và nghi lễ. Chỉ thiếu duy nhất một thứ, ấy là lòng xót thương dành cho người quá cố. Mà thiếu điều này, thì xem như là thiếu tất cả. Còn cuộc hôn nhân này ? Thì thiếu tất cả. Kể cả những lễ nghi tối thiểu nhất của một đám cưới. Thế nhưng, nó lại có cái quan trọng nhất, cốt lõi nhất : sự  thương yêu gắn bó thực lòng. Mà đã có được điều này, thì những cái thiếu kia đều không còn đáng kể, thậm chí đều trở nên vô nghĩa). Những điều này quyết định đến việc tổ chức mạch chuyện và cả cấu tứ của thiên truyện nữa.
 2.2. Diễn biến của tình huống truyện
2.2.1. Diễn biến mạch truyện
Không phải ngẫu nhiên mà mạch chuyện là một chuỗi ngạc nhiên kế tiếp. Khi Tràng dẫn vợ về thì cả xóm ngụ cư ngạc nhiên. Thoạt tiên là lũ trẻ. "Lũ ranh" ấy bỗng nhiên mất hẳn đi một bạn chơi, khi có đứa chợt nhận ra quan hệ của họ là "chông vợ hài". Còn đám người lớn thì ngớ ra "không tin được dù đó là sự thật". Khi đã tỏ, họ tò mò thì ít mà ái ngại nhiều hơn :"Giời đất này còn rước cái của nợ đời về". Tiếp đó là bà cụ Tứ. Tràng lấy được vợ là điều bà đêm mong ngày tưởng, vậy mà khi sự xảy đến, bà hoàn toàn không tin nổi - không tin vào mắt mình (ngỡ mình trông gà hoá cuốc), không tin vào tai mình (quái, sao lại chào mình bằng "u"). Song, đáng nói nhất vẫn là Tràng. Là"thủ phạm" gây ra tất cả, mà vẫn không hết ngạc nhiên (chẳng những cứ đứng "tây ngây" giữa nhà tối hôm trước mà đến tận hôm sau, qua một đêm có vợ rồi nhưng "hắn cứ lơ lửng như người đi ra từ trong một giấc mơ"). Trong chuỗi ngạc nhiên ấy, ta đọc thấy những định nghĩa xót xa về người vợ : Vợ là cái của nợ đời, vợ là gánh nặng phải đèo bòng... Có thể nói, chưa có ở đâu giá trị của người vợ lại thấp kém, lại bèo bọt như hoàn cảnh này. Và cũng chưa bao giờ, hạnh phúc lại có một nghĩa lí đáng sợ như ở đây : hạnh phúc là một mạo hiểm, một nguy cơ ! Như vậy, tạo được tình huống này, tác phẩm đã tố cáo được tội ác của Phát xít Nhật, kẻ đã gây ra nạn đói khủng khiếp, không chỉ cướp đi sinh mệnh của mấy triệu người Việt Nam, mà còn đánh tụt giá người xuống hàng cỏ rác bèo bọt. Mặt khác cũng lầm toát lên được niềm tin vào bản chất Người trong con người : dù hoàn cảnh muốn biến Con Người thành Bèo Bọt, nhưng Con người vẫn không chịu làm Bèo bọt mà vẫn kiên nhẫn làm Người. Nghĩa là một tình huống đem lại tầm vóc nhân văn đáng nể cho tác phẩm.
 2.2.2. Diễn biến trong tình thế
2.2.2.1. Trước hết, đó là tình huống đùa mà không đùa.
Hôn nhân là một chuyện hệ trọng và thiêng liêng vào bậc nhất của đời sống nhân sinh. Ấy thế mà ở đây, hoàn cảnh tai ác và cả con người nữa như muốn biến thành trò đùa - "Tràng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai lần thế mà thành chuyện". Nếu trước sau chỉ là một trò đùa, thì Con người đã thành Bèo bọt. May thay, các nhân vật đã bước ra khỏi trò đùa kia với tư cách Con người. Một diễn biến như thế, có thể thấy về bản chất là : Cảnh ngộ cứ lăm le Bèo bọt hoá Con người, nhưng Con người đã vượt lên cả cảnh ngộ lẫn bản thân mình.
Nhìn từ phía cô "vợ nhặt", cái đói quay quắt ném cô vào một đời sống vất vưởng. Đời sống vất vưởng nghiệt ngã đã biến cô thành một kẻ chanh chua, chao chát, cong cớn, trơ tráo. Không chỉ làm biến dạng tính cách con người, nạn đói khủng khiếp còn như một cơn lũ lớn đã cuốn phăng đi bao sinh mệnh. Chới với giữa dòng lũ, tiếng nói thường trực nhất, tất nhiên, là tiếng nói của bản năng : cần phải sống đã, cần phải bám ngay vào một cái gì có thể bám được. Và bản năng ham sống đã xui khiến cô làm tất cả những gì có thể để thoát khỏi cái chết đang đe dọa từng giờ từng phút. Thật may mắn, cô đã bám được vào một cái cọc, thoạt đầu có vẻ ơ hờ không đâu, té ra lại vững vàng đáo để. Cái cọc ấy có tên là Tràng. Đầu đuôi, chưa phải là bám vào Tràng, hay bám vào cái xe bò, mà là bám vào một cái rất không đâu, rất mong manh vô hình, ấy là... câu hò không địa chỉ của Tràng. Để làm được kì công ấy, cô đã biến một câu hò đùa vu vơ giữa chợ thành một lời hứa hẹn thật ("Muốn ăn cơm trắng mấy giò này, lại đây mà đẩy xe bò với anh nì"). "Kì công" nhất là, biến một lời rủ rê đùa thành... một lời cầu hôn chính thức ("Làm đếch gì đã có vợ. Nói thế chứ muốn về với tớ thì ra sửa soạn các thứ rồi cùng về !). Có phải bản năng đã hoàn toàn lấn át danh dự ? Nếu quả thực chỉ có thế, thì cô cũng chỉ là một thứ Bèo bọt, không hơn không kém. Nhìn kĩ, bên trong chưa hẳn đã mất hết lòng tự trọng. Nếu hoàn toàn không còn ý thức ấy, hẳn ở cô không thể có những cung cách như khi nhìn thấy căn lều rách nát của mẹ con Tràng, cô đã nén một tiếng thở dài trong ngực, không thể ngồi mớm bên giường ôm khư khư cái thúng trong lòng, không thể đêm khuya cứ ngồi bần thần bất động trong khi Tràng đã sốt ruột leo lên giường mong hưởng đêm tân hôn. Nhất là cái cung cách ứng xử vào sáng hôm sau : không phải việc lao vào dọn dẹp cùng với mẹ chồng từ sáng sớm- việc ấy nghĩ cũng bình thường !- mà là: khi nhận bát "chè khoán" từ tay bà cụ Tứ, mắt thị chợt tối lại, sau đóvà ăn một cách điềm nhiên. Thái độ và cung cách như thế chỉ có thể có ở một người có ý thức sâu về cảnh ngộ mình cùng thân phận mình. Té ra, những chao chát, chỏng lỏn, cong cớn kia chỉ là những du nhập từ ngoài vào, như một thứ vũ khí để tự vệ, để đối phó với cảnh sống vất vưởng thôi. Bản tính sâu xa đến giờ mới hiện ra, mà cơ chừng cuộc hôn nhân này mới làm hồi sinh thì phải ! Như thế, nảy nở bởi một trò đùa, nhưng bên trong con người vốn dĩ là một cái mầm nghiêm túc luôn khát sống và khát làm Người. Ta mới hiểu được vì sao, cô tự rơi vào một hoàn cảnh rất dễ bị khinh rẻ, nhưng người đọc và cả người trong truyện không thấy khinh mà chỉ thấy thương, rồi thấy quí, dù lắm lúc thấy...buồn cười.
Nhìn từ phía Tràng, tình huống này không hẳn là lưỡng lự giữa sựđùa cợt phất phơ  ý định nghiêm túc, mà ở chiều sâu, chính là phân vân giữa một bên là sự khước từ của lòng vị kỉ một bên là sự cưu mang của lòng vị tha (hay một bên là nỗi lo sợ cái chết, một bên là khát khao hạnh phúc, thì cũng thế). Sau những gì đã "gây ra" bởi hàng loạt những trò đùa tào phào, Tràng có "chợn", nghĩa là thoáng lo sợ và ân hận của kẻ trót đẩy trò đùa đi quá trớn. Nếu lúc bấy, Tràng bỏ của chạy lấy người, thì về lí, chẳng ai trách được gã trai ấy. Nhưng tình người trong gã hẳn là mất mát đi nhiều lắm. Thế thì Tràng cũng chẳng hơn thứ Bèo bọt là bao. Song, Tràng đã "Chặc, kệ !". Có vẻ như một quyết định không nghiêm túc, như  phóng lao phải theo lao vậy. Đến đấy, cả người đọc thừa thãi niềm tin nhất cũng chưa thể tin là rồi ra có thể chắc chắn. Dù ngẫm cho cùng, họ đến với nhau, bề ngoài thì ngẫu nhiên, không đâu, mà bên trong lại là tất nhiên: người này cần người kia để có một chỗ dựa mà qua thì đói kém, còn người kia cũng cần đến người này để mà có vợ, để biết đến hạnh phúc làm người (Nếu không "gặp cái nước này, người ta mới lấy đến" Tràng, thì tình trạng ế vợ trường kì của gã trai đây còn khuya mới đến hồi kết thúc !). Và cuối cùng, nằm ngoài mọi tưởng tượng và ngờ vực, hai que củi trôi dạt ấy đã chụm vào nhau, đã nhen nhóm lên thành bếp lửa. Sau cái tiếng "Chặc, kệ!" đó, mọi tầm phơ tầm phào đã lập tức khép lại, nhường chỗ hoàn toàn cho sự nghiêm trang. Hãy chú ý đến những gì Tràng làm ngay sau đó. Còn chút tiền, Tràng đã dồn vào ba việc : mua cho vợ một cái thúng, ăn với nhau một bữa cơm và mua một chai dầu. Hai việc đầu là thiết thực. Việc thứ ba xem chừng xa xỉ, cứ như một thứ chơi sang, chơi ngông. Hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, không có đèn thắp, có chết đâu ! Nhưng chính cái việc ngỡ như xa xỉ kia lại nói với ta rất nhiều về tấm lòng của Tràng. Thì ra, không phải lấy được vợ quá dễ dàng thì Tràng cũng rẻ rúng hạnh phúc của mình. Nếu rẻ rúng, Tràng cũng chỉ là Bèo bọt. Trái lại, Tràng rất trân trọng. "Vợ mới vợ miếc thì cũng phải sáng sủa một chút chứ chả nhẽ chưa tối đã chui ngay vào". Cách nói có cái vẻ bỗ bã của một gã trai quê, nhưng động cơ thì không thiếu cái nghiêm trang của một người giai tế tối tân hôn. Hôm nay phải là một ngày khác hẳn. Phải là một sự kiện của đời mình. Ngày mình có vợ kia mà - nhà cần phải sáng ! Mua chai dầu chính là nỗ lực để đàng hoàng ở cái mức mình có thể có được vào lúc này. Kể từ khi ấy, họ gắn bó với nhau chân thành và nghiêm trang như bất cứ đôi lứa nào trên cõi đời này. Chẳng phải đấy là hình ảnh của Tình người, của tư cách Người trong con người ? Rõ ràng, hoàn cảnh muốn biến con người thành bèo bọt nhưng con người quyết không làm bèo bọt mà vẫn kiên nhẫn làm người.
2.2.2.2. Thứ hai là tình thế đám cưới ở giữa đám ma. Thậm chí, đám cưới nhỏ nhoi giữa một đám ma khổng lồ.
Là việc hai cá thể tự nguyện gắn bó với nhau, lập nên một gia đình rồi sinh con đẻ cái, đám cưới được coi như sự kiện khởi đầu một sự sống mới trong nhân gian. Còn đám ma lại là sự kiện kết thúc một chu trình sống trên cõi đời này. Tình huống Vợ nhặt, do đó, còn có thể gọi là sự sống nảy sinh giữa cái chết. Có thể Kim Lân chưa chắc đã ý thức thật đầy đủ về khía cạnh này. Nhưng ý nghĩa khách quan của tác phẩm thì toát lên điều đó. Không phải ngẫu nhiên mà trong thiên truyện, ta thấy nổi lên song hành hai cuộc giao tranh: Sự sống với Cái chết  Ánh sáng với Bóng tối.
Thật oái oăm, cuộc hôn nhân hình thành một phần lớn là do Cái Chết dồn đuổi. Đôi trai gái là hiện thân của Sự Sống. Khi dắt nhau về xóm ngụ cư, họ đi trong sự bao vây của cái chết. Cái chết hiện ra với nhiều bộ mặt, nhiều biến thể : khi thì trong hình ảnh xác những người chết đói nằm la liệt trên bãi chợ, khi thì  ở bóng những người đói xanh xám dật dờ như những bóng ma đằng sau gốc đa và gốc gạo, khi lại hiện ra trong hình ảnh bầy quạ đen bu kín trên ngọn cây, chỉ chờ những người đói đổ xuống là ùa tới moi gan rỉa thịt, khi lại hiện trong hình ảnh khói của những nhà đốt đống rấm để xua mùi tử khí... Cái Chết truy đuổi rình rập quanh bước chân của họ. Thậm chí, khi đôi trai gái sắp lên giường ngủ, nó vẫn chưa chịu buông tha. Đúng lúc ấy, họ nghe thấy tiếng khóc hờ của những nhà mới có người chết tỉ tê lọt qua kẽ vách. Nhưng, sự sống không bao giờ chán nản. Sáng hôm sau, tất cả các thành viên trong gia đình ấy đã cùng lao vào một việc, một việc có thể nói là không thiết thực, bởi không có một hiệu quả kinh tế trực tiếp gì : dọn dẹp nhà cửa. Nhưng cái việc có vẻ chưa cần thiết một tí nào ấy lại nói với ta rất nhiều về thái độ sống của họ. Họ không muốn tạm bợ, mà muốn đàng hoàng. Họ đang chuẩn bị cho cuộc sống lâu dài. Họ bướng bỉnh tuyên chiến với nạn đói. Ở người mẹ già nua, sự sống ngỡ như đã khô cạn đi, lại như bừng lên một sức sống mới. Bà xăm xắn lao vào công việc, hay cười, hay nói và toàn nói về tương lai, tương lai gần còn chưa hiện ra đã lại nghĩ đến những tương lai xa hơn nữa (Tràng ạ, lúc nào có tiền mua lấy đôi gà. Tao tính cái đám đất đầu bếp kia nếu làm chuồng gà thì rất tiện. Này, ngoảnh đi ngoảnh lại sẽ có ngay đàn gà cho mà xem). Vậy đấy, Sự sống đâu có đầu hàng Cái chết ! Trái lại, Sự sống đang kiên nhẫn vượt lên Cái chết.
Nhưng, tinh vi nhất vẫn là cuộc giao tranh thứ hai : Ánh sáng với Bóng tối. Phần thắng cuối cùng thuộc về Ánh sáng. Điều này hiện rõ ngay trong kết cấu. Có ngẫu nhiên không khi câu chuyện mở ra lúc trời nhá nhem tối và kết thúc vào sáng hôm sau, khi mặt trời lên cao bằng con sào? Và hệ thống tình tiết dọc theo mạch chuyện cũng không hẳn là ngẫu nhiên. Trước khi đôi trai gái dắt nhau về, bao trùm lên xóm ngụ cư là một bầu không khí âm u, ảm đạm bởi tử khí vây quanh cùng bao ánh mắt lo âu. Nhưng họ về đến đâu ánh sáng theo về đến đó. Thoạt tiên là có một cái gì tươi mát thổi vào đám người ngụ cư làm cho gương mặt hốc hác u tối của họ bỗng rạng sáng lên. Rồi đêm ấy căn lều lâu nay bóng tối vẫn ngự trị của mẹ con bà cụ Tứ cũng sáng lên - bằng ngọn đèn từ chai dầu của Tràng ? Không, sâu xa hơn, là bằng nguồn sống bừng lên từ cuộc hôn nhân ấy. Sáng hôm sau, gương mặt lâu nay u ám bủng beo của bà cụ Tứ cũng sáng lên. Cảnh vật bao quanh căn lều cũng sáng sủa quang đãng... Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, chai dầu của Tràng giỏi lắm cũng chỉ xua đi được Bóng tối trong cái căn lều nhỏ bé ấy thôi. Còn Bóng tối bao trùm lên toàn bộ thế giới của câu chuyện thì ngọn đèn dầu kia làm sao xua tan nổi. Nó phải nhờ vào một nguồn sáng khác lớn lao hơn, mãnh liệt hơn. Đó là nguồn sáng của lá cờ. Câu chuyện được khép lại bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ hiện lên trong tâm trí của Tràng là nằm vào mạch ngầm tất yếu đó. Một kết thúc bằng Ánh sáng. Một kết thúc lạc quan.
3. Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện
3.1. Quan niệm : Con người dù có thế nào vẫn cứ là CON NGƯỜI : a) Vẫn khao khát vun vén hạnh phúc, b) Quyết không làm bèo bọt mà kiên nhẫn và kiêu hãnh làm Người.
3.2. Sự sống chẳng bao giờ chán nản, lúc nào nó cũng hướng ra phía trước và vươn ra ánh sáng. Thế là, nảy sinh trên một mảnh đất mà Cái chết đang lan tràn, nhưng Sự sống quyết không chán nản. Sự sống bao giờ cũng mạnh hơn Cái chết. Đó chính là bản tính tích cực của Sự sống. Điều ấy chẳng phải là dư vị triết lí tiềm ẩn trong tình huống Vợ nhặt, chỗ sâu xa nhất trong ý nghĩa nhân văn của tác phẩm này sao ? Gọi Vợ nhặt  Bài ca Sự sống, thiết tưởng cũng không phải một đề cao quá đáng.
    Kết luận, từ những vấn đề lí thuyết và qua những phân tích thực tế vào tác phẩm có thể thấy :
- Hạt nhân thể loại của truyện ngắn là tình huống truyện.
- Tiếp cận một tác phẩm truyện ngắn mà chưa chú ý đúng mức đến tình huống truyện thì xem như chưa thực sự khám phá phần then chốt nhất, phần lõi cốt nhất của truyện ngắn.
- Vấn đề này cần được ứng dụng rộng rãi hơn vào việc nghiên cứu, giảng dạy truyện ngắn nói chung và giảng dạy truyện ngắn ở trường phổ thông nói riêng.
       Hà nội, xuân Quí Mùi,  TS. Chu Văn Sơn