Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

TIẾP CẬN "TRAO DUYÊN" THEO CÁI NHÌN THỜI GIAN NGHỆ THUẬT


     (Nguyễn Thị Thúy Anh -Trường THPT chuyên Phan Bội Châu)
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
          Nguyễn Du là một trong những đỉnh cao của nền văn học Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của ông mang nhiều tâm tư  sâu sắc, quy tụ được những vấn đề xã hội và dự báo nhiều điều cho mai hậu. Việc nghiên cứu về Nguyễn Du không bao giờ kết thúc. Truyện Kiều - tác phẩm bất hủ của ông, "tập đại thành" của văn học Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và từ đó đến nay việc nghiên cứu Truyện Kiều không bao giờ đứt đoạn , nó luôn phát triển cùng nghành văn bản học và ngữ văn học. Hơn nữa Nguyễn Du và Truyện Kiều chiếm vị trí không thể thiếu trong chương trình văn học ở trường phổ thông, tính cả chương trình văn THCS và THPT Nguyễn Du và Truyện Kiềuchiếm một thời lượng lớn. Trong đó Truyện Kiều được học với tư cách tác phẩm và nhiều đoạn trích. Đoạn trích "Trao duyên" là màn đặc biệt, diễn tả sâu sắc bi kịch đầu tiên  trong cuộc đời đầy bi kịch của Kiều, đồng thời thể hiện tập trung nghệ thuật miêu tả nội tâm và tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Vì thế "Trao duyên" là một đoạn trích hay nhưng cũng rất khó tiếp cận, nó thu hút những sự tìm tòi khám phá của các nhà nghiên cứu và của giáo viên giảng dạy môn văn. Qua nhiều năm giảng dạy, tích lũy chúng tôi mạnh dạn đề xuất một hướng tiếp cận đoạn trích này.
          II. NHỮNG CON ĐƯỜNG ĐÃ MỞ :
         Như đã nói ở trên, là một đoạn trích tiêu biểu cho ngòi bút của Nguyễn Du trong Truyện Kiều nên "Trao duyên" được nhiều nhà nghiên cứu phân tích và khám phá trên nhiều bình diện.
         Lê Trí Viễn với bài viết "Trao duyên" trong cuốn "Đến với thơ hay" - NXB Giáo dục -1998 đã phân tích sâu sắc ngôn ngữ nhân vật, chỉ ra cách sử dụng từ ngữ độc đáo, ý nghĩa của các từ ngữ  trong việc Kiều thuyết phục Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim nhằm làm nổi bật cái "sắc sảo mặn mà" của nhân vật, nhưng cũng chính vì thế mà bài viết chưa làm nổi bật được diễn biến tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều.
      Bài viết của Lê Bảo trong "Giảng văn văn học Việt Nam" - NXBGD-1997 - một bài viết rất công phu, khám phá sâu sắc về nhiều phương diện nghệ thuật của đoạn trích "Trao duyên" nhằm làm nổi rõ dòng tâm trạng của nhân vật như tác giả kết luận: “ý thức về thân phận của con người trong tác phẩm là kết quả của những yếu tố nghệ thuật kết hợp lại một cách nhuần thấm tự nhiên, trong đó có nhịp điệu, các thành ngữ, việc miêu tả thời gian tâm lý trong cái dòng phát triển biện chứng của những trạng huống tâm hồn" và tác giả Lê Bảo phân tích rất kỹ các yếu tố nghệ thuật như nhịp điệu, từ ngữ, thành ngữ - tác giả chú ý phân tích làm rõ thời gian tâm lý trong đoạn trích nhưng chỉ chú ý vào phần sau mà chưa chú ý dòng chảy thời gian tâm lý xuất hiện ngay từ đầu đoạn trích, chính nó tạo nên nhịp độ chung cho đọan trích cũng như quy định ngôn ngữ, hành động của nhân vật trong việc trao duyên. Hơn nữa đây là một bài viết chuyên sâu nên nếu áp dụng bài viết này vào bài giảng trong hai tiết ở lớp với trình độ của học sinh, giáo viên sẽ gặp nhiều khó khăn, lúng túng giữa việc cân bằng nội dung bài giảng với lượng thời gian lên lớp.
    Ở sách giáo viên một cuốn sách có tầm định hướng cụ thể chi tiết cho giáo viên trong soạn bài, lên lớp cũng viết bài nàykhá rõ ràng, chu đáo với mục đích "làm rõ" chủ đề "bi kịch tình yêu tan vỡ", khám phá lôgích trong diễn biến tâm trạng và ngôn ngữ biểu đạt. Bài viết này chia đoạn trích làm hai phần với ba nội dung chủ yếu : nội dung thứ nhất "Mâu thuẫn làm nền cho diễn biến tâm trạng nhân vật". Nội dung thứ hai: "Thúy Kiều nhờ em thay mình trả nghĩa Kim Trọng". Nội dung thứ ba: "Tâm trạng bi kịch của Thúy Kiều”. Như vậy tác giả Nguyễn Lộc chỉ tập trung khám phá tâm trạng nhân vật ở phần thứ hai còn phần đầu của đoạn trích tác giả chỉ tập trung phân tích sức thuyết phục trong lời lẽ của Thúy Kiều khi nhờ Thúy Vân trả nghĩa Kim Trọng. bài viết này phù hợp với nội dung câu hỏi hướng dẫn học bài ở sách giáo khoa. ở sách giáo, khoa có ba câu hỏi: Câu hỏi 1 và 2 đòi hỏi học sinh tìm hiểu ý nghĩa của một số từ ngữ, thành ngữ trong việc thuyết phục Vân cuả Thúy Kiều. Câu hỏi 3 đòi hỏi phân tích tâm trạng của Thúy Kiều từ câu: "Ngày xuân em hãy còn dài " đến hết đoạn trích
       Như vậy chúng ta thấy rằng các bài viết đã có những thành công nhất định, nhưng về mặt nào đó vẫn có những hạn chế như việc tách riêng hai phần đoạn trích, để khám phá sức thuyết phục trong lời lẽ của nhân vật ở phần 1 và khám phá diễn biến tâm trạng ở phần 2. Chưa tác giả nào khám phá đoạn trích từ phía tìm hiểu dòng thời gian tâm lý. chính sự cảm nhận thời gian của nhân vật trong đoạn trích đã quy định cách thể hiện ngôn ngữ, hành động cũng như thể hiện diễn biến tâm trạng nhân vật.
      Vì thế để khám phá sâu sắc diễn biến tâm lý nhân vật chúng tôi đề xuất khám phá đoạn trích từ cái nhìn thời gian nghệ thuật.
       III. CƠ SỞ ĐỀ RA GIẢI PHÁP
    1. Cơ sở lý luận:
            Cùng với sự phát triển của ngành thi pháp học các học giả nước ta đã mở rộng con đường tiếp cận tác phẩm văn học, họ đã có phương tiện hữu hiệu khám phá sự phong phú đa dạng và hấp dẫn của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm và một trong những cách tiếp cận tác phẩm của thi pháp học là nghiên cứu thời gian nghệ thuật của tác giả xây dựng trong tác phẩm của mình.  Không gian, thời gian là hai phương thức tồn tại của tất cả các sự vật khách quan vì thế thời gian nghệ thuật (cùng với không gian nghệ thuật) là yếu tố quan trọng mà nhà văn sử dụng để kiến tạo thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của mình. Là phương thức tồn tại của thế giới vật chất thời gian cũng như không gian đi vào nghệ thuật cùng với cuộc sống được phản ánh như một hiện tượng của thế giới khách quan. Nhưng đồng thời thời gian còn là một yếu tố nghệ thuật được soi sáng bằng tư tưởng tình cảm, được nhào nặn và sáng tạo để giúp nhà văn mô tả nhân vật, phản ánh đời sống một cách chân thực nhất. Con người tùy theo tâm trạng, tư tưởng, tình cảm và ý thức mà cảm nhận thời gian một cách khác nhau cho nên các nhà văn tập trung xây dựng trong tác phẩm của mình một hình tượng thời gian với sự tập hợp các yếu tố thời gian cá biệt để tạo nên nhịp độ đời sống trong tác phẩm. vì thế khám phá được các biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong tác phẩm chúng ta có thể giải mã được nhiều điều mà tác giả muốn gửi gắm. Việc tìm hiểu thời gian nghệ thuật là một trong những vấn đề hiện đại và hiệu quả của nghiên cứu văn học .
 2. Cơ sở thực tiễn
          Nghiên cứu Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những vấn đề được các nhà khoa học chú trọng từ trước đến nay, trong đó có hai công trình lớn rất có giá trị là: "Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều" của Phan Ngọc và "Thi pháp Truyện Kiều" của Trần Đình Sử; hai tác giả này đã nghiên cứu nhiều phương diện khác nhau của Truyện Kiều trong đó có sự tập trung khám phá thời gian nghệ thuật trong tác phẩm. Qua nghiên cứu, Phan Ngọc khẳng định, Truyện Kiều có “hai thời gian", "một thời gian khách quan của thế giới  và một thời gian nội  tâm trong lòng từng nhân vật”, ông còn nói "thời gian nghệ thuật này không được đo bằng kim đồng hồ mà được đo bằng xúc cảm con tim”. Ông còn chỉ ra sự cảm nhận thời gian cụ thể ở  nhân vật Thúy Kiều: "Thế giới nội tâm tách ra thành ba thời gian: sững sờ trước hiện tại, hồi tưởng tới quá khứ và lo lắng cho tương lai". Trong "Thi pháp Truyện Kiều " Trần Đình Sử dành một mục lớn để khám phá nhiều phương diện của hình tượng thời gian ông đã chỉ ra Truyện Kiều có "một dòng thời gian tâm lý" đó là sáng tạo độc đáo vượt xa truyện nôm đương thời của Nguyễn Du. Dòng thời gian tâm lý xuất hiện ở tất cả các nhân vật nhưng rõ nhất ở Thúy Kiều: "thời gian của Kiều là do hoạt động có ý thức của Kiều tạo ra trong tương quan với hoàn cảnh”. Vì thế  trước mỗi hoàn cảnh, cảnh ngộ Kiều lại có sự cảm nhận thời gian  theo một cách riêng và dòng thời gian đó bộc lộ rõ thế giới nội tâm của Kiều. Sự cảm nhận thời gian của Kiều rất phong phú và đa dạng tùy vào sự biến thái, đổi thay tâm trạng của nàng trước mọi cảnh huống.
     Như vậy chúng ta thấy các học giả đã khẳng định trong Truyện Kiều có một dòng thời gian tâm trạng, dòng thời gian đó được xây dựng trên sự cảm nhận, ý thức của nhân vật trong mối quan hệ với hoàn cảnh vì thế muốn khám phá thế giới nội tâm nhân vật ta có thể dựa vào khám phá hình tượng thời gian nghệ thuật mà tác giả xây dựng trong tác phẩm.
     Những thành tựu của ngành thi pháp học cộng với những nghiên cứu cụ thể của các giáo sư trong hai công trình trên đã trang bị cho chúng tôi phương tiện để đi vào khám phá những biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong đoạn trích "Trao duyên”. Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy thế giới nội tâm của Kiều được bộc lộ rõ qua việc nhà thơ xây dựng một dòng thời gian một cách đặc biệt đó là một thời gian hiện tại dồn nén, thắt ngặt trong cảnh huống đầy bi kịch, một thời gian đồng hiện trong sự hoảng loạn của nội tâm vì tình yêu tan vỡ.
    IV. ĐỀ XUẤT HƯỚNG TRIỂN KHAI BÀI GIẢNG “TRAO DUYÊN”
    1. Lưu ý khi dạy phần tiểu dẫn:
        Bên cạnh việc xác định vị trí đoạn trích trong toàn bộ bố  cục kết cấu của tác phẩm như sách giáo khoa đã trình bày chúng tôi còn chú ý giúp học sinh xác định sự kiện trao duyên xảy ra trong giai đoạn nào của cuộc đời Kiều để xác định rõ tâm lý nhân vật lúc đó đồng thời định hướng cho học sinh thấy đoạn trích tập trung miêu tả tâm trạng nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại: Nhân vật tự suy ngẫm, tự nếm trải, giãi bày, cảm nhận trước thực tế phũ phàng nên thế giới nội tâm đó càng sâu sắc, chân thực. Từ những suy nghĩ  đó, chúng tôi thử đề xuất hệ thống câu hỏi trong phần này:
Câu hỏi : Dựa vào phần tiểu dẫn ở SGK và những hiểu biết về Truyện Kiều em hãy nêu ngắn gọn vị trí đoạn trích?
Yêu cầu: Đoạn trích nằm phần đầu tác phẩm từ câu 724 đến câu 756 sau một loạt những biến cố lớn: Kiều phải chia tay để Kim Trọng về Liêu Dương hộ tang chú, gia đình Kiều bị vu oan, Kiều phải từ bỏ tình yêu, bán mình cho Mã Giám Sinh để chuộc cha và em, đây là đêm cuối cùng trước ngày ra đi Kiều tâm sự và nhờ Vân trả nghĩa chàng Kim.
 Câu hỏi Những biến cố này xảy ra trong giai đoạn nào của đời Kiều? ở Kiều nảy sinh tâm lý gì?
Yêu cầu: Sự kiện này xảy ra khi Kiều chỉ mới "Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê"
(khoảng 15, 16 tuổi) Kiều còn rất ngây thơ trong sáng chưa có va chạm trong cuộc đời, chưa hề có sự chuẩn bị chống đỡ những nghiệt ngã của số phận, tai họa lúc này tạo nên ở Kiều một cú sốc tâm lý lớn  với những biến thái nội tâm vô cùng phức tạp.
Câu hỏi : Truyện Kiều là tác phẩm tự sự nhưng đoạn trích lại sử dụng  ngôn ngữ độc thoại, dụng ý của tác giả ?
Yêu cầu: Để nhân vật tự độc thoại, tức là để cho nhân vật tự suy ngẫm, tự nếm trải, tự giãi bày thế giới nội tâm của mình thì thế giới nội tâm đó hiện lên một cách chân thực và sâu sắc nhất.
    Từ đó chúng ta rút ra cho học sinh thấy đoạn trích "Trao duyên"chủ yếu thể hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật, khám phá đoạn trích tức là đi sâu khám phá diễn biến tâm lý đó. Đồng thời để thấy rõ tấm lòng cũng như tài năng của Nguyễn Du trong việc miêu tả tâm lí nhân vật ở Truyện Kiều.
2. Phân tích đoạn trích :
câu hỏi:Dựa vào sự tìm hiểu kết cấu và bố cục đoạn trích em hãy đề xuất cách phân đoạn để phân tích? 
     Theo dòng chảy tâm trạng của nhân vật trong đoạn trích chúng tôi chia đoạn trích làm hai phần để tìm hiểu, phần thứ nhất từ đầu cho đến câu: "Duyên này thì giữ vật này của chung", phần thứ hai: Tiếp đó cho đến hết.
     a. Phần thứ nhất:
      Có thể nói màn "Trao duyên" diễn ra toàn bộ ở phần này, ở đây tác giả đã xây dựng một bối cảnh thời gian đặc biệt. Bối cảnh thời gian làm nổi bật diễn biến tâm trạng của nhân vật vì thế để phân tích diễn biến tâm trạng của Kiều ở đây chúng tôi đề xuất những câu hỏi như sau:
Câu hỏi: Kiều tâm sự với Vân ở thời điểm nào? Thời điểm đó tác động gì đến  nhân vật?
Yêu cầu : Kiều tâm sự với Vân vào đêm cuối cùng trước ngày Kiều theo Mã Giám Sinh từ  bỏ gia đình, từ bỏ mối tình với chàng kim ra đi,đây là khoảng thời gian ngắn ngủi mà kiều còn được ở với gia đình. Sự thắt ngặt của thời gian đó tạo nên sự dồn nén  cảm xúc đậm đặc, trong mỗi tích tắc của thời gian có sự vận động của nội tâm của ý thức với những biến hóa khôn lường, bởi chỉ có một thời điểm duy nhất, một con người duy nhất có khả năng nhận lời gửi gắm cái tài sản quý giá nhất, cái hi vọng cuối cùng của Kiều. Tính chất thắt ngặt, dồn nén của bối cảnh thời gian đó đã tạo nên một cơn lốc nhỏ làm cồn lên những suy nghĩ, những thổn thức, thúc đẩy nhân vật hành động. Sau những đắn đo: “Hở môi ra cũng ngượng ngùng/ để lòng thì phụ tấm lòng với ai”  Kiều quyết định trao duyên cho em
 Câu hỏi : Việc Kiều trao duyên cho em thể hiện rõ nhất ở những câu thơ nào trong đoạn trích?
Yêu cầu: màn trao duyên diễn ra trọn vẹn ở phần thứ nhất của đoạn trích và hoạt động trao duyên cũng chỉ diễn ra ở những câu thơ đầu và cho đến câu thơ "Duyên này thì giữ vật này của chung" Những câu thơ thể hiện một sự kiện có một không hai trong cuộc đời Kiều, bộc lộ sâu sắc nỗi đau của thân phận con người, thân phận tình yêu trong xã hội xưa.
  Câu hỏi : Màn trao duyên diễn ra qua trình tự như thế nào?
  Yêu cầu : - Trong 4 câu thơ đầu ngôn từ và hành động của Kiều vô cùng đặc biệt
            * Câu thơ mở đầu có hai từ  em, cậy
            *Có sự phi lý trong thái độ trân trọng quá đáng với Thúy Vân của Kiều  ở hành động "lạy thưa "
Câu hỏi: Em có nhận xét gì về lời lẽ, hành động của Kiều đối với Thúy vân trong màn trao duyên? vì sao Kiều lại hành động như thế?
Yêu cầu: Lời nói, hành động được Kiều thể hiện liên tiếp dồn dập, vội vàng. Hành động vội vàng này của Kiều trước hết bắt nguồn từ việc Kiều ý thức sâu sắc hoàn cảnh của mình trong hiện tại: Tình yêu vô cùng mãnh liệt, khát khao hạnh phúc thì vô biên mà thời gian để yêu thương thì ngắn ngủi, chật hẹp. Sóng gió cuộc đời khủng khiếp ập tới bất cứ lúc nào. Chính ý thức thời gian này đã làm cho Kiều phải hành động vội vàng.
     Kiều nói với em bằng những lời lẽ khẩn thiết nhất, cảm động nhất “Cậy em em có chịu lời''. Tất cả sự trông đợi, sự ký thác gửi cả vào từ “cậy”, nàng khẩn khoản van nài em bằng những hành động tôn kính quá mức : "lạy, thưa''...làm những điều đó Kiều muốn Vân không thể chối từ  và Kiều có thể trả nghĩa chàng Kim trong muôn một.
     Hơn nữa nhịp độ gấp gáp vội vàng trong những câu thơ còn thể hiện tinh thần tranh chấp với số mệnh của Kiều; bởi ngay trước đó Kiều đã có những kinh nghiệm xương máu về những phi lý của cuộc đời: vừa nhận lời yêu Kim Trọng “thề hoa chưa ráo chén vàng” Kim Trọng đã phải ra đi. Gia đình đang hạnh phúc “êm đềm trướng rủmàn che” cha mẹ đã : “rường cao rút ngược dây oan”, tai họa có thể ập tới bất cứ lúc nào con người không thể chống đỡ nổi. Kiều phải hành động tranh chấp với thời gian để cứu lấy tình yêu của mình và Kim Trọng.
Câu hỏi: em thử so sánh việc Kiều trao dyên với những việc làm khác của nàng trước và sau này?
Yêu cầu: Những quyết định trong cuộc đời đều được Kiều cân nhắc, suy nghĩ rất chín chắn. Khi quyết định bán mình nàng đã “để lời thệ hải minh sơn/làm con trước phải đền ơn sinh thành” sau những đắn đo, dằn vặt khủng khiếp và sau này cũng thế bao giờ kiều cũng phải suy nghĩ rất nhiều nhưng ở đây dường như Kiều không hề so đo, tính toán nàng  nghĩ đến và làm rất mau chóng. Có lẽ nàng biết mình không thể dùng dằng được nữa, thời gian không cho phép, sáng ra nàng đã phải lên đường, phải từ bỏ tất cả.
Câu hỏi: Trong bốn câu cuối của phần thứ nhất Kiều đã thuyết phục em như thế nào? (Bốn câu cuối từ:    "Ngày xuân em hãy còn dài”cho đến “ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây” )  
Yêu cầu: Để thuyết phục em , Kiều đã dùng những lời lẽ thật đặc biệt. Trong lời của nàng có một loạt thành ngữ nói lên mối quan hệ thân thiết, ruột rà như:       
        tình máu mủ/ lời nước non
Hay là những thành ngữ chỉ cái chết:
        thịt nát xương mòn/ ngậm cười chín suối
    Đó là lời lẽ có sức mạnh lay động tình cảm, lòng trắc ẩn của con người nhất là những người thân. Kiều đã nói với em bằng tất cả sự đau đớn, chua xót cho thân phận mình. Lời của Kiều như là những lời trăng trối, nàng viện dẫn cả tình máu mủ ruột rà, cả cái chết thê thảm để thuyết phục em. Kiều hiểu, để Vân nhận lời cũng rất khó khăn bởi đây là một việc làm thay đổi cả đời Vân, là gánh nặng mà Vân phải mang suốt cả cuộc đời. Nàng vô cùng thông cảm cho em nhưng nàng cũng không còn cách nào khác nghĩa chàng Kim quá nặng  mà hoàn cảnh của Kiều lúc này thì quán éo le.
    Câu hỏi :Lời lẽ, thái độ và hành động của Kiều ở đây,cho ta thấy điều gì ?
Yêu cầu: Kiều đã quyết định dứt khoát, và tìm mọi cách để thuyết phục Thuý Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim, bởi Kiều ý thức sâu sắc về hạn chót của thời gian, Kiều không thể làm gì khác để cứu tình yêu. Trong ý thức nàng đây là hành động duy nhất mà nàng có thể làm cho tình yêu, cho chàng Kim. Cho nên nàng đã dùng tất cả nỗi thống khổ của đời mình  và những lời lẽ thuyết phục nhất để thuyết phục Vân.
Câu hỏi: bên cạnh việc thuyết phục Thuý Vân, lời nói của Kiều còn thể hiện điều gì? 
Yêu cầu: Bên cạnh đó, lời của Kiều còn cho ta thấy sự cảm nhận của nàng về bi kịch số phận, bi kịch tình yêu, một cách sâu sắc. Trong từng câu, từng chữ nàng nói với em, có sự ý thức sâu sắc về thân phận của mình, đó là sự hiển diện của một "mệnh bạc" của cái chết"Thịt nát xương mòn". Nhưng đặc biệt nhất, ở đây lời của nàng thể hiện nỗi đớn đau tột cùng trước sự tan vỡ của tình yêu. Nàng nhắc lại kỷ niệm tình yêu thật tha thiết (ngay khi đang tìm cách trao duyên cho em). Nàng nhớ như in phút dây gặp gỡ, hẹn thề ''khi gặp chàng Kim, khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề "đó là phút dây đẹp nhất đời nàng. Thế mà tình yêu đó thật ngắn ngủi, những tai hoạ khủng khiếp đổ xuống bất ngờ không thể chống đỡ “sóng gió bất kì”, giữa đường đứt gánh tương tư”  tình yêu phút chốc nát tan.
Câu hỏi: để diễn tả nỗi đau này của Kiều tác giả sử dụng những phương tiện nghệ thuật nào?
   Đoạn thơ có điệp ngữ  “khi gặp, khi ngày, khi đêm”, âm điệu thơ  luyến láy, nhịp điệu thơ gấp gáp, hình ảnh thơ tương phản gay gắt đã diễn giải ý thức sâu sắc của Kiều về sự ngắn ngủi mong manh của hạnh phúc tình yêu giữa cuộc đời dâu bể. Tất cả những điều này làm nổi bật cái bi kịch oan trái của cuộc đời Kiều: Khát khao hạnh phúc thì vô biên, hiện thực đời sống tàn nhẫn, khủng khiếp đã biến hạnh phúc thành chốc lát, tất cả chỉ còn là sự xót xa nuối tiếc khôn nguôi.
   Câu hỏi: Sau những lời thuyết phục em việc làm tiếp theo của Kiều là gì?
   Yêu cầu: việc làm tiếp theo của Kiều là trao kỉ vật cho em
   Câu hỏi: cảm nhận của em khi nghe Kiều dặn dò Vân lúc trao kỷ vật?
Yêu cầu: Kiều trao kỷ vật cho em ''chiếc thoa, bức tờ mây'' những vật minh chứng cho tình yêu của Kim Kiều bây giờ nàng đưa lại cho em, thế là mọi việc đã kết thúc, Vân đã nhận lời việc đền ơn Kim Trọng đã xong. Thế mà, Kiều vẫn không thể thanh thản bởi  duyên đã trao nhưng tình thì không thể dứt nên kỷ vật đã trao mà nàng vẫn cố níu kéo bằng lời dặn “vật này của chung”. Câu thơ không hề có một từ ngữ nào miêu tả trực tiếp nội tâm nhân vật, nhưng sự dùng giằng khi trao kỷ vật của Kiều lại gợi dậy cho người đọc những cảm nhận về tâm trạng  tiếc nuối, vò xé của nàng.
     Như vậy ở phần thứ nhất trong đoạn trích này tác giả không chỉ thể hiện sự "sắc sảo" của Kiều trong việc thuyết phục Thúy Vân trả nghĩa chàng Kim. Nếu chỉ là thuyết phục Vân thì bốn câu đầu đã hoàn thành viên mãn. Ở đó có cả việc trao gửi, có người nhận lời gửi gắm, có cả hoàn cảnh éo le "giữa đường đứy gánh tương tư"buộc Kiều phải nhờ cậy nhưng ở đây Kiều giãi bày rất dài dòng,  hành động, lời nói của Kiều không chỉ chịu sự chỉ đạo của lý trí mà còn do những cảm nhận về cảnh ngộ của bản thân trong hiện tại đã tạo ra những khủng hoảng nội tâm sâu sắc. Nên những nguồn cơn trong lòng nàng trào dâng không kìm giữ nổi. Chúng ta thấy trong đoạn thơ xuất hiện hai dòng chảy: một dòng chảy của lý trí và một dòng chảy của tâm trạng.
     Mạch ngầm đầy dư ba đó biểu hiện sâu sắc cái nhìn cảm thông nhân đạo của Nguyễn Du trước bi kịch cuộc đời Kiều. Đồng thời việc khám phá được những rung động tinh vi trong tâm hồn nhân vật như thế, chứng tỏ nhà thơ là một kì tài trong việc phân tích nội tâm nhân vật.

   b.Phần thứ hai:

         Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh thấy được diễn biến tâm trạng của nhân vật từ phần thứ nhất đến phần thứ hai bằng câu hỏi có tính chất gợi ý như sau :
Câu hỏi : Nếu phần thứ nhất tâm trạng của Kiều chủ yếu được thể hiện qua sự cảm nhận cái hiện tại ngắn ngủi thì ở phần này tâm trạng của Kiều được biểu hiện qua dòng thời gian nghệ thuật như thế nào ?
Yêu cầu: ở phần thứ nhất Kiều phải dùng lý trí kìm nén cảm xúc để trao duyên cho em thì lúc này việc vì người đã xong, lý trí không còn đủ sức kìm giữ được cảm xúc Kiều rơi vào sự khủng hoảng tâm lý cực độ. Tâm trạng đó của Kiều được biểu hiện bằng  những lời nói, hành động của Kiều  trong sự cảm nhận thời gian đặc biệt đó làthời gian đồng hiện quá khứ, hiện tại, tương lai.
 Câu hỏi : Từ sự kiện trao duyên Kiều cảm nhận hiện tại của mình như thế nào?
 Yêu cầu : Khi duyên đã trao, tình yêu vĩnh viễn tan vỡ, hạnh phúc trở thành ảo vọng, hiện tại đã trở thành thời điểm phân chia, ngã ba đường của số phận để nhân vật quay nhìn vào quá khứ, soi rọi vào tương lai.  Soi rọi vào tương lai Kiều nhìn thấy hạnh phúc của Thúy Vân khi đã "nên vợ nên chồng" với chàng Kim và Kiều cũng thấy thân phận mình đã trở thành kẻ "mệnh bạc", kẻ bị "mất người" vì thế trong Kiều trào lên niềm tự thương khắc khoải, xót xa.
Câu hỏi : Đồng thời với việc nhìn thấy tương lai đó trong  Kiều có diễn biến tâm lý như thế nào? Bộc lộ tâm trạng gì ?
Yêu cầu : Từ hiện tại cay đắng ( mất tình yêu) hình dung một tương lai bất hạnh khi đối sánh số phận mình với duyên tình của Thuý Vân, Kiều quay về tìm đến với tình yêu bằng kỷ niệm của ngày gặp gỡ hẹn thề, "phím đàn với mảnh hương nguyền”nhưng tất cả đã không còn. Mọi việcđã trở thành quá khứ,  hai từ "ngày xưa" đã đẩy lùi cái kỷ niệm êm đềm ngày nào vào quá khứ  xa xôi, vời vợi (mặc dù tình yêu Kim - Kiều vừa mới ''thề hoa chưa ráo chén vàng”,những sự biến trong gia đình Vương ông xảy ra gần như đồng thời với việc Kim Trọng về Liêu Dương). Cái ngày nay phút chốc đã là cái ngày xưa cả "phím đàn", cả "lò hương " đêm thề thốt, những gì đẹp nhất, quý giá nhất đã hun hút xa xôi, chìm vào bóng tối. Kiều trở về quá khứ tưởng tìm được nơi an ủi nhưng kỷ niệm lại là nhát dao cứa mạnh vào tim, đẩy nàng tới sự hoảng loạn, nàng chạy trốn kỷ niệm tìm đến với tương lai.
Câu hỏi : Trước mắt Kiều hiện lên một tương lai như thế nào ?
Yêu cầu : Trước mắt Kiều hiện lên một tương lai thật hãi hùng, nàng nhìn thấy số phận của mình nơi mai hậu thật là thê  thảm, nàng đã là người của thế giới bên kia, linh hồn nàng vật vờ theo lá cây ngọn cỏ trở về mang theo niềm tiếc nuối khắc khoải ''hồn còn mang nặng lời thề " nhưng tình yêu bất diệt của nàng không còn chỗ trong cuộc sống hiện thực. Cũng ''lò hương ấy",''tơ phím này"nhưng người so tơ, đốt lò không còn là Kiều cũng không còn là Kim của ngày xưa. Sự trở về của Kiều chỉ còn niềm hy vọng duy nhất là sự cảm thông của người ngày xưa “rưới xin chén nước cho người thác oan”  Kiều ví mình như chàng Trương Chi thủa nào mang nặng khối tình xuống Tuyền đài chỉ có sự thấu hiểu của người ngày xưa mới có thể hoá giải nỗi oan tình, nàng khẩn cầu niềm an ủi để xoa dịu nỗi đau. Vậy mặc dù duyên đã trao, nghĩa chàng Kim đã trả
nhưng Kiều không hề thanh thản, sự tan vỡ oan khuất của tình yêu làm nàng đau đớn không cùng hồn nàng không thể về nơi siêu tịnh, nàng chỉ hy vọng mai hậu Kim Trọng cảm thông may ra nỗi oan thác này  mới được giải tỏa.
Câu hỏi: em có nhận xét gì về dòng thời gian ở đây?
Yêu cầu: Dòng thời gian ở đây không tuân theo sự chảy trôi của thời gian khách quan bên ngoài mà nó có những nhịp độ hoàn toàn khác: có sự hồi hoàn giữa thời gian hiện tại, quá khứ, tương laitrong một khoảnh khắc ngắn của cả cuộc đời. Giọng thơ cũng thay đổi, hình ảnh thơ chập chờn ma mị, thời điểm không xác định (mai sau, bao giờ) không khí linh thiêng (đốt lò hương, so tơ phím).Tất cả nói lên tâm trạng khổ đau khủng hoảng của nhân vật. Sự đối lập găy gắt giữa ước vọng và hiện thực cuộc sống đã làm cho Kiều rơi vào tột cùng bi kịch, dẫn tới sự khủng hoảng tâm lý dữ dội.
Câu hỏi: Nhận xét của em về nghệ thuật miêu tả nội tâm của nhà thơ?                          
Yêu cầu: Xây dựng dòng thời gian tâm lý này Nguyễn Du đã làm nổi bật thế giới nội tâm đầy mâu thuẫn của Kiều. Một mặt nàng muốn trao duyên cho em để chàng Kim đỡ đau khổ, một mặt nàng không dứt nổi mối tình tuyệt đẹp của mình và khi không thể giữ  nổi tình yêu nàng đau đớn đến hoảng loạn. Nàng gần như mất hết ý thức về không gian, thời gian. Vì thế dòng thời gian ở đây không tuân theo thời gian khách quan mà nó có một nhịp độ riêng thẫm đẫm cảm xúc, tâm trạng. Dùng dòng thời gian đặc biệt này  nhà thơ đã mổ xẻ tâm trạng nhân vật một cách chân thực nhất, những biến đổi tinh vi của tâm hồn được lý giải thật sâu sắc, tài tình.
 Trong sự hoảng loạn khi tình yêu đã mất, Kiều chìm vào một dòng thời gian
ảo, Kiều như nửa tỉnh nửa mê đang nói chuyện cùng Vân nàng bỗng như nói chuyện với mình, nàng đối diện một thực tế đớn đau:
  Trâm gãy gương tan
 Tơ duyên ngắn ngủi
Câu hỏi : Tâm trạng của Kiều được thể hiện rõ nhất qua từ ngữ nào?
Yêu cầu: Từ “bây giờ” như một cái mốc oan nghiệt xẻ cuộc đời Kiều thành hai nửa. Một nửa trong quá khứ êm đẹp, một nửa là hiện tại bi thương. Cái giới hạn chia đời Kiều thành hai nửa đó chính là bi kịch trao duyên  mà Kiều vừa thực hiện xong. Cái“bây giờ” trở thành bản lề khép mở hai thế giới của đời Kiều: một quá khứ “êm đềm trướng rủ màn che”, một tương lai “mệnh bạc” hồn vật vờ theo lá cây ngọn cỏ vì ôm mối oan tình không dứt.
Câu hỏi: Quay lại với hiện tại, đối diện với bi kịch "bây giờ trâm gãy, bình tan” tâm trạng Kiều như thế nào?
 Yêu cầu:Tâm trạng Kiều có sự đột biến. Nỗi đau khi tình yêu bị tan vỡ thì người ngoài cuộc không thể hiểu, nàng Vân không thể chia sẻ. Lúc này, tâm trạng Kiều chìm tới đáy của sự chiêm nghiệm cá nhân, của nỗi đau cuộc đời, nàng ý thức sâu sắc thân phận của mình.         
 trâm gãy bình tan
tơ duyên ngắn ngủi
 phận bạc như vôi
 nước chảy hoa trôi
Lời nói của Kiều có một loạt những thành ngữ diễn tả cái tan vỡ, cái bất hạnh, cái nổi trôi vô định của số phận, Kiều nhắc tới điều đó  bằng sự ý thức về thân phận, về cuộc đời bi kịch của mình, bằng nhận thức sự đối lập găt gắt giữa cái hữu hạn của số phận và cái"muôn vàn" vô hạn của tình yêu, ước vọng. Hiện tại đẩy nàng xuống tận cùng bi kịch, nỗi đau này không thể chia sẻ cùng ai, kể cả nàng Vân  chỉ có chàng Kim là hiểu, chàng là người duy nhất có thể chia sẻ vì thế từ sự tự thương mình Kiều tìm đến chàng Kim và bóng hình chàng Kim xuất hiện trong sự tưởng tượng của Kiều. Đang đối mặt cùng Thuý Vân thế mà Kiều dường như vượt qua cả không gian thời gian để cùng tâm sự với chàng Kim. Lời của nàng giờ đây là những lời than chua xót về thân phận của mình và thân phận của tình yêu, đặc biệt là những lời  tạ lỗi cùng Kim Trọng:
  Kể làm sao hết muôn vàn ái ân
   Trăm nghìn gửi lạy tình quân

  

Nàng gọi tên chàng Kim  bằng  những tiếng nấc nghẹn ngào  như  trong cơ  mê sảng “Ôi Kim lang hỡi Kim lang/  Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”. Những gì đã lo cho chàng Kim chỉ làm nàng yên tâm trong khoảng khắc, nàng vẫn mang nặng trong lòng mình nỗi mặc cảm tội lỗi.

Câu hỏi: Cảm nhận của em về tâm trạng nhân vật ở đây?

Yêu cầu: Đoạn thơ diễn tả một cơn khủng hoảng, một trận sóng gió tơi bời trong lòng của con người tài sắc mà mệnh bạc. Nàng khổ đau, quằn quại đâu phải chỉ vì chính mình mà còn vì người nên nỗi đau càng nhân lên gấp bội...

Vấn đề “ngã” hay “phi ngã” trong VHVN trung, cận đại – Nguyễn Đình Chú

Vấn đề “ngã” hay “phi ngã” trước hết là vấn đề của cuộc sống con người và quan niệm của con người về cuộc sống. Nhưng cũng vì là vấn đề của cuộc sống con người và quan niệm của con người về cuộc sống cho nên đã chi phối, phản ánh vào văn học một cách rất phức tạp, ở nhiều phương diện của văn học. Muốn hiểu sâu hơn văn học trung đại, không thể không hiểu sâu hơn vấn đề “ngã” và “phi ngã” trong nền văn học đó. Điều này, không chỉ có tác dụng đối với việc nhận thức văn học trung đại mà còn tạo điều kiện đối sánh trong khi nhận thức văn học cận, hiện đại.
 Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu văn học, kể cả một số tác giả sách giáo khoa môn Văn trung học phổ thông trong đó có chính tác giả của bài viết này đã nói đến tính chất “phi ngã”, “vô ngã” trong văn học trung đại. Nói thế là căn cứ vào:
- Thực tế lịch sử là ở Việt Nam trong thời trung đại, cái tôi (ngã) về cơ bản chưa được phát hiện, nhận thức.
- Tư tưởng “phi ngã”, “vô ngã” trong học thuyết Nho, Phật mà văn học trung đại chịu ảnh hưởng. 
- Bản thân văn học, đặc biệt đối với các thể loại mang hình thức cố định với thi liệu, văn liệu có tính công thức, ước lệ, trừu tượng, phi cụ thể và cá thể, trong đó có điển tích điển cố...
Từ những căn cứ trên, mà kết luận rằng văn học trung đại có tính “phi ngã”, “vô ngã” là đúng. Nhưng để tránh sự đơn giản hoá vấn đề, cần phải nói rõ một số điều sau đây:
1. Vấn đề “phi ngã”, “vô ngã” của Nho giáo, Phật giáo:
- Nho giáo lấy chữ “Lễ” làm nội dung cốt yếu để xây dựng, tổ chức cuộc sống. Lễ là bao gồm các quy ước, điều ước nhằm đảm bảo các quan hệ của con người với nhau, trong cuộc sống xã hội. Tam cương (quân thần, phụ tử, phu phụ/phu thê) và ngũ luân (quân thần, phụ tử, phu thê, huynh đệ, bằng hữu) là những quan hệ chủ yếu trong cuộc sống con người theo Nho giáo. Để đảm bảo quan hệ đó được tồn tại tết đẹp, Nho giáo, chủ trương “khắc kỷ phục lễ” (thắng mình - tức là “Tôi” để phục tùng “Lễ”). Khổng Tử (trong thiên Tử hãn) chủ trương “tuyệt tứ”: Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã.
Vô ý: chỉ theo lẽ phải của việc mà làm, không để ý riêng mình vào.
Vô tất: không quyết hẳn bằng một cách làm mà được vì ý chí làm, quyết là đạo đó thường hay trái với thời thế và đạo lý tự nhiên.
Vô cố không cố chấp vào một phương pháp chết trái với lẽ biến thông viên hoạt.
Vô ngã: ngã = mình ta, làm gì mà vì chữ “ngã” sẽ dẫn đến sai lầm. Khổng Tử không bao giờ đặt chữ ngã trong lòng. Vô ngã là điều cốt yếu nhất của Tử tuyệt tứ (4 điều dứt bỏ do Khổng Tử chủ trương).
(Xem cách giải thích của Phan Bội Châu trong Khổng học đăng phần đầu khi nói về Khổng Tử).
Nhiều người đã căn cứ vào các mệnh đề trên để kết luận về tính chất “phi ngã” (không thừa nhận cái 'Tôi") của Nho giáo. Điều đó là đúng, nhưng cũng không đủ. Vì Nho giáo, một mặt, không thừa nhận cái “Tôi” cá thể, chủ trương hi sinh nó cho chữ “Lễ” và dĩ nhiên, đó là một hạn chế lớn nhất trong nội dung thuyết Nho giáo mà ngày nay, chúng ta đã có điều kiện nhìn rõ hơn. Tuy nhiên, ở Nho giáo vẫn có một thứ “ngã” rất sâu sắc mà cuộc sống không phải không cần. Đấy là cái “ngã” đạo đức, cái “ngã” trách nhiệm, mà khó có một học thuyết nào sánh kịp. Nho giáo chủ trương: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Tu thân, chính là kêu gọi, khuyến khích sự phấn đấu của mỗi một cá thể để trở thành một cá thể người đạo đức Trong nội dung tu thân, Nho giáo còn đề ra nhiều mệnh đề quan trọng: “Nhất nhật tam tỉnh ngô thân” (một ngày ba lần xét mình - tức xét tư cách đạo đức của cái “Tôi”), “Quân tử thận kì độc” (người quân tử phải thận trọng khi ở một mình), “Quân tử độc thiện kì thân” (người quân tử riêng giữ mình theo điều thiện). “Cổ chi học giả vị kỷ, kim chi học giả vị nhân” (Người có học đời xưa thì vì mình, người có học đời nay thì vì người),“Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chi nhân” (Người quân tử cầu ở mình, kẻ tiểu nhân cầu ở người).
Rõ ràng, Nho giáo rất quan tâm tới một thứ “ngã”, và quan tâm một cách phiến diện, chứ không hẳn là “phi ngã” hoàn toàn.
Phật giáo chủ trương lý thuyết nhân duyên tức là nhấn mạnh mối quan hệ không chỉ là hiện thực còn là siêu hình, không chỉ hiện tại mà còn là quá khứ, là tương lai của con người với nhau. Do đó đã đi đến chủ trương “vô ngã”. ‘Ngã” là chủ thể, là riêng có tự tướng[1] của mình, mang tính riêng biệt. Người có tự tướng của người. Vật có tự tướng của vật. Thế giới có tự tướng của thế giới. Quốc gia có tự tướng của quốc gia. Xã hội có tự tướng của xã hội. Đã có tự tướng của mình, tất sẽ có tự tướng của người khác. Đã có tự tướng của vật này, tất sẽ có tự tướng của vật khác... Cứ thế mà sinh ra nhân (người), ngã (tôi), bỉ (khác), thử (này), quý trọng, khinh rẻ, tranh chấp nhau trong xã hội. Phật giáo phủ nhận tự tướng đó tức là phủ nhận “ngã”. Nó chủ trương “vô ngã” vì cho rằng bất cứ cái gì đã có thì phải làm nhân duyên cái khác.
Ở phương diện này, Phật giáo còn “vô ngã” hơn Nho giáo. Tuy nhiên, ngay ở Phật giáo, trong khi chủ trương “vô ngã” như đã nói, thì ở phương diện tu hành để thành Phật, lại vô tình rất đề cao vai trò cá nhân, tức là cái “ngã” tu hành theo bài bản, hệ thống, phương hướng của Phật giáo không dễ gì đối với từng cá nhân nhà sư. Và Phật giáo khi đề ra phương châm “tự giác” để “giác tha”, “tự lợi” để “lợi tha” cũng đã để lộ một cái “tự” (tự mình), tức là một cái “ngã”.
Nội dung “ngã” và “phi ngã”, “vô ngã” trong Nho giáo và Phật giáo được nói lại trên đây dĩ nhiên là còn quá giản đơn, thô thiển so với bản thân vấn đề trong hai học thuyết đó. Nhưng thiết tưởng cũng góp phần làm rõ thêm điều mà sách, báo gần đây đề cập đến, kể cả hạn chế sự ngộ nhận do cách nói một chiều, quá đơn giản, đó đây đã gặp. Còn vấn đề ảnh hưởng của nội dung “ngã” và “phi ngã”, “vô ngã” của Nho giáo, Phật giáo trong văn học Việt Nam thời trung đại là gì? Có thể thấy rõ hai mặt ảnh hưởng: tích cực và tiêu cực. Tích cực là ở chỗ: chính tinh thần đề cao cái “Tôi” nghĩa vụ, cái “Tôi” công dân, cái “Tôi” đạo đức của Nho giáo đã góp phần đáng kể tạo ra cái gọi là tâm huyết, là nghĩa khí, là cái cao cả... một cách đích thực, bản chất trong văn học trung đại mà ở một môi trường xã hội tâm lý khác không dễ gì có tới mức như thế. Cũng như tinh thần “vô ngã” của Phật giáo đã góp phần tạo nên cái chất vị tha, không chỉ trên phương diện tư tưởng mà còn là cảm xúc, là tình thương bao la, góp phần làm giàu chất nhân bản, nhân đạo cho văn học trung đại. Tất nhiên, chỗ hạn chế chung của Nho giáo cũng như Phật giáo trong chủ trương “phi ngã”, “vô ngã” như đã nói, trước hết chính là sự cản trở văn học trong việc phát hiện, khám phá cái “Tôi” cá thể theo ý nghĩa chính đáng, cần thiết của nó.
2. Nói đến tính chất “phi ngã”, “vô ngã” trong văn học trung đại, ngoài những điều trên đây, còn phải tính đến sự phức tạp khác của vấn đề, nếu không sẽ sai lầm. Điều cần thấy là, dù văn học trung đại có chịu ảnh hưởng của tư tưởng “vô ngã”, “phi ngã” của Nho, Phật thì đó vẫn chưa phả là sự quyết định toàn bộ số phận, thực trạng tồn tại của nghệ thuật, của thơ văn, vì một tác phẩm văn học, dù ở thời đại nào dù đã tự giác hay chưa tự giác nhận thức cái “Tôi” thì trước hết vẫn là sản phẩm, là con đẻ của một cá thể một “thằng Tôi”, không ai giống ai, ngoài những điều họ đã chung nhau, giống nhau, - một “thằng Tôi” trước khi trở thành “thằng Tôi” nghệ sĩ, đã là “thằng Tôi” cá nhân, cá thể như bất cứ ai giữa cuộc đời. Thực tế văn học trung đại chứng minh hùng hồn điều đó. Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, v.v.. mỗi người một cá tính nghệ thuật, không lẫn nhau được. Cá tính nghệ thuật trong bản chất là gắn với tài năng. Càng có tài năng, càng có cá tính. Không có những cá tính đó, không có lịch sử văn học, hiểu theo nghĩa nghiêm ngặt nhất. Lịch sử văn học, có thể nói là lịch sử cá tính sáng tạo. Cá tính sáng tạo là chuyện thời nào cũng có thể có và thời nào cũng khó có. Quy luật của văn học nói chung, của văn học trung đại nói riêng là thế. Nói đến tính chất “phi ngã” của văn học Việt Nam trung đại, xin đừng quên những cá tính nghệ thuật đã phải tồn tại trong những hình thức phi cá tính mà mọi người đã thấy trên phương diện thể tài, văn liệu, thi liệu, vốn nổi lên với tính chất quy  phạm định hình khép kín về thi pháp, trong vòng ảnh hưởng của những học thuyết “phi ngã”, “vô ngã”.
Khi nói đến tác phẩm văn học, chúng ta còn biết là có nhân vật trữ tình, tức là cái tôi trữ tình trong mỗi tác phẩm, nhất là với thơ ca. Tất nhiên, cái tôi trữ tình này và cái “Tôi” cá nhân trong văn học (mà ta nói là trong văn học trung đại chưa được phát hiện, khám phá đầy đủ do tư tưởng “phi ngã”, “vô ngã” chi phối), không hẳn là một khi có người đã lầm lẫn, coi là một. Vì một bên là sản phẩm tất yếu trong tác phẩm, dù tự giác hay không tự giác đối với người sáng tác từ cổ chí kim, nhất là với những tác giả lớn. Còn một bên là sản phẩm tự giác có nội dung riêng, phải được điều kiện lịch sử xã hội cho phép nhà văn mới phát hiện, khám phá được. Cái “Tôi” một khi được tự giác nhận thức sẽ là một biểu hiện mới mẻ của nội dung nhân bản và trong nghệ thuật. Đó là một điều kiện thuận lợi rất cơ bản cho thế giới cảm xúc, cảm hứng, tâm trạng, tâm tình nhà văn được bộc lộ thoải mái hơn trong tác phẩm của mình như chúng ta đã thấy ở thời kỳ văn học nửa đầu thế kỷ XX. Nhưng không phải hễ nhà văn tự giác nhận thức được cái “Tôi” thì tự nhiên là có cá tính trong sáng tạo nghệ thuật. Để đi đến cái Tôi - cá nhân một cách tự giác đầy đủ, thực tế đã phải có quá trình nhận thức từ tự phát, cảm tính, trực giác đến tự giác, lý tính, có mức thấp, mức cao, có phiến diện và toàn diện. Mức cao nhất, toàn diện nhất là phải có tính chất triết học. Trong văn học Việt Nam thời trung đại, ngay ở giai đoạn Lý - Trần đã xuất hiện không ít thơ ca thuật hoài, cảm hoài, thuật cảm, ngôn hoài, ngôn chí… mà ở đó, dĩ nhiên cái Tôi - cá nhân đã trực hiện nhưng nói chung vẫn là tự phát. Bởi so với yêu cầu nhận thức, chiếm lĩnh cái Tôi - cá nhân ở trình độ tự giác, triết học, có lý luận vẫn còn là một khoảng cách khá xa. Cần thấy rằng: yêu cầu nhận thức triết học về cái Tôi - cá nhân là ngoài phạm vi chủ thể (mình tự nhận thức về chính cá nhân mình) còn là thuộc phạm vi khách thể (mình nhận thức về những cá nhân ngoài mình và trong cuộc sống). Mà ngay trong nhận thức chủ thể cũng phải có ý thức về tính khách thể của chủ thể.
3. Cá nhân là thực thể đầu tiên làm nên mọi hình thức cộng đồng xã hội. Xã hội chỉ là xã hội khi có từng cá nhân cá thể. Cá nhân trước hết là một thực thể tự nhiên, sinh học trước khi là một thực thể mang tính xã hội. Nói đến sự sống của nhân loại trước hết là nói đến sự sống của từng cá nhân. Có thể ví xã hội như là một cơ thể thì cá nhân là từng tế bào. Muốn có một cơ thể khoẻ thì phải có từng tế bào khoẻ. Cái Tôi - cá nhân được nhận thức đúng đắn sâu sắc và được phát huy theo hướng đúng đắn, chân chính, sẽ là điều kiện tối ưu cho sự phất triển toàn xã hội. Nói đến cáiTôi - cá nhân không chỉ có khía cạnh quyền lợi, sự hưởng thụ, mà trước hết là vai trò, động lực phát triển xã hội, sự cống hiến. Cái Tôi - cá nhân được nhận thức như thế, về bản chất là hoàn toàn đối lập với cái Tôi - cá nhân chủ nghĩa, tức là chủ nghĩa vị kỷ, phản tiến hoá. Bởi một bên là điều cần cầu nguyện cho nó sớm trỗi dậy ngày nào hay ngày ấy. Còn một bên, ngược lại, tiêu diệt được nó sớm phút nào hay phút ấy. Cái Tôi - cá nhân hiểu theo nghĩa chân chính không hề đối lập với tính cộng đồng, tính tập thể, tính vị tha. Thuý Kiều của Nguyễn Du đã cho ta một minh chứng hấp dẫn tuyệt vời về sự kết hợp giữa tính vị kỷ (không phải là chủ nghĩa vị kỷ) và tính vị tha. Văn học phấn đấu cho chủ nghĩa nhân đạo bằng sự bảo vệ, xây đắp hạnh phúc cho con người, khám phá thế giới con người, nhưng khi nói đến hạnh phúc con người cũng như khám phá thế giới con người mà không thông qua con người cá nhân thì ít nhiều đã rơi vào chủ nghĩa trừu tượng, phi thực tế. Cái Tôi - cá nhân có ý nghĩa thiêng liêng như vậy trong sự sống của nhân loại. Tuy nhiên, không phải ở đâu và lúc nào, con người trong đó các nhà văn với sứ mạng khám phá, phản ánh, đấu tranh cho hạnh phúc con người cũng đã nhận thức sáng tỏ vấn đề này. Có thể nói ở nước ta, và trong phạm vi văn học, dễ thấy một sự thật có phần khác với nhiều nền văn học trên thế giới là đã rất chậm chạp trong việc nhận thức về cái Tôi - cá nhân này thậm chí là cho đến hôm nay, cũng chưa hẳn đã được nhận thức rạch ròi. Có tình trạng chậm chạp trong quá khứ là do chế độ công xã tồn tại dai dẳng, do kinh tế tư hữu chậm phát triển và chưa phát triển tới mức cao so với thế giới. Mặt khác, còn do ảnh hưởng của các học thuyết ít nhiều mang tính chất “phi ngã”, “vô ngã” chi phối như trên đã nói; trong khi văn học phương Tây, ngay trong thời cổ đại, ít nhiều cáiTôi - cá nhân đã ló mặt. Đặc biệt đến thời đại Phục hưng thì nó có mặt một cách tự giác, bề thế. Chủ nghĩa nhân văn trong văn học Phục hưng đề cao con người, coi nó là trung tâm của vũ trụ, là thực tế tồn tại đẹp đẽ nhất của muôn loài. Con người hơn muôi loài trước hết vì con người có trí tuệ. Con người được nói đến ở đây là con người tự nhiên trong đó có hai phương diện cơ bản: sinh học và xã hội. Và khi nói đến CON NGƯỜI thì cũng đã nhận biết có cái Tôi - cá nhân. Đến thế kỷ XVII, Đêcáctơ (Descartes) có được luận điểm nổi tiếng: “Je pense, donç je suis” (Tôi tư duy, ấy là tôi tồn tại) chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng Phục hưng về cái Tôi - cá nhân(L'individu) đó. Chủ nghĩa nhân văn của thời Phục hưng với nội dung cơ bản trên đây trước hết là một sự giải phóng con người khỏi sự ràng buộc của tôn giáo, của thần quyền. Từ sự giải phóng này, con người vươn tới sáng tạo ra nền văn hoá Phục hưng và để lại những con người khổng lồ trên phương diện văn hoá nghệ thuật..như mọi người đã biết. Ở nước ta, mãi tới thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, trong điều kiện chế độ phong kiến cùng với ý thức phong kiến bị suy sụp trước sự trỗi dậy của các phong trào nhân dân trong đó đã bắt đầu có thành phần thị dân, cái Tôi - cá nhân mới bắt đầu có mặt ít nhiều qua sáng tác của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Phạm Nguyễn Du, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Công Trứ... Trong cái Tôi - cá nhân ở giai đoạn văn học này đã có cái Tôi tự ý thức về mọi nỗi đau khổ của mình, cái Tôi đòi quyền sống cho mình, trong đó có quyền được tự do bộc lộ tình cảm riêng tư cá thể, tự do yêu đương, tự do hưởng hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc tuổi trẻ, kể cả hạnh phúc bản năng. Ở đây cũng chớm hiện ra cái Tôi sinh học tự nhiên… Sự kết hợp hài hoà giữa cái Tôi và cái Ta, cùng với sự cân bằng, sự quân bình giữa càm xúc và lý trí (vốn có nguồn gốc sâu xa từ học thuyết âm dương, học thuyết trung dung) trong cái Tôi, ở buổi đầu này, là khá đẹp. Với những điều đó, cái Tôi này có ý nghĩa nhân bản, chống phong kiến rõ rệt và ít nhiều có tính chất hiện đại bởi nó thuận theo quy luật phát triển của giá trị nhân bản, của sự sống chính đáng. Sự xuất hiện của cái Tôi - cá nhân mang ý nghĩa nhân bản mới mẻ tiến bộ như thế đã có liên quan mật thiết tới sự hình thành và phát triển một số thể loại từng được coi là đặc sản của văn học cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX: truyện thơ, khúc ngâm, hát nói. Cái Tôi - cá nhân đã có mặt, dù chậm nhưng khá xinh xắn và kháu khỉnh như thế nhưng ngay sau đó, nó lại như lẩn mặt đi vì thời đại không khuyến khích vì trước hoạ Pháp xâm lược, số phận cái “Tôi” phải nhường chỗ cho số phận cái “Ta” trước số phận dân tộc. Mãi đến nửa đầu thế kỷ XX này, đặc biệt là từ những năm 20 trở đi, dù đất nước còn bị chìm ngập trong vòng nô lệ thực dân Pháp, nhưng một khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa (dù ốm yếu do hoàn cảnh thuộc địa quy định) đã có mặt, lại thêm ảnh hưởng tư tưởng và điệu sống tư sản phương Tây tràn vào ào ạt, nhất là ở các đô thị và trong phạm vi tầng lớp tư sản và tiểu tư sản, thì dù muốn hay không, cái Tôi - cá nhâncũng có mặt lại. Và như thế là lần này nó đã có mặt, với một hậu thuẫn về quan hệ sản xuất, về cơ sở kinh tế rõ rệt hẳn hoi so với thời Nguyễn Du trước đó nhiều. Cái Tôi - cá nhân chớm lên ở thơ văn Tản Đà, ở tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, ở bút ký Giọt lệ thu của Tương Phố,Linh Phượng ký  của Đông Hồ trong thập kỷ 20, sau đó xuất hiện ngang nhiên trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, trong Thơ Mới và ít nhiều cả trong dòng văn học hiện thực phê phán. Ở tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, cái “Tôi” xuất hiện chủ yếu là trên phương diện giải phóng tình yêu khỏi sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến, của tập tục cổ truyền, tạo cho tình yêu có một thế giới, một sinh mệnh mang màu sắc cá nhân - cá thể theo hướng tự do cá nhân. ở Thơ Mới, cái “Tôi” xuất hiện chủ yếu lại trên phương diện cảm xúc, tình cảm, trong đó, dĩ nhiên là cũng có tình yêu, nhưng không chỉ là tình yêu. Và cái “Tôi” cảm xúc thiên về hướng sầu bi đã trở thành một nét trội của Thơ Mới. Ở văn học hiện thực phê phán, từ lâu, hầu như không ai nghĩ rằng có cái “Tôi” vì ở đây, nội dung chủ yếu là vấn đề phân tích mổ xẻ, phê phán sự xấu xa, bất nhân của xã hội đương thòi. Nhưng ở Nam Cao, một nhà văn hiện thực xuất sắc thì rõ là có một cái “Tôi”. Cái “Tôi” của người nghệ sĩ tự ý thức về sự éo le bi đát của kiếp đời làm nghệ thuật trước sự đói nghèo, của người trí thức tiểu tư sản tự ý thức về tình trạng “sống mòn” của mình trong thời buổi thực dân nửa phong kiến bất lương vạn ác. Trong phê bình văn học, Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam, trở thành bà đỡ đẻ cho phong trào Thơ Mới, thực chất là đỡ đẻ cho cái Tôi - cá nhân. Hoài Thanh từng viết:“Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xưa - hay thơ Cũ, và thời nay - hay thơ Mới, có thể gồm lại trong hai chữ Tôi và Ta. Ngày trước, là thời chữ TA, bây giờ là thời chữ TÔI…” (Một thời đại trong thơ ca – Thi nhân Việt Nam, 1942). Cái Tôi - cá nhân trong văn học 1930 - 1945 xét ở từng bộ phận, từng tác giả, đều có những nét riêng biệt, khác nhau ở trạng thái trực giác hay lý tính, ở mức độ cao thấp của nhận thức, quan niệm, nhưng nhìn chung đã không tránh khỏi phần nào hạn chế do thiếu một cơ sở nhận thức triết học vững chãi so với thời Phục hưng ở phương Tây ngày trước, do chưa tạo ra được một sự kết hợp thích đáng với cái “Ta” (tức là số phận dân tộc, nhân dân) trong hoàn cảnh thuộc địa. Nhưng bên cạnh những hạn chế đó, cái phần tích cực có ý nghĩa nhân đạo chủ nghĩa mới mẻ của nó cũng là không nhỏ. Nó trỗi dậy trước hết với tư cách là một cội nguồn sáng tạo ra những thành tựu rực rỡ của văn học Việt Nam theo hướng hiện đại hoá. Nó trỗi dậy, cũng chính là một sự thức tỉnh của con người về quyền lợi sống vì như trên đã nói, nói đến quyền sống con người, không thể không nói đến quyền sống của từng cá nhân, cá thể. Văn học cận hiện đại không chỉ đòi tình yêu tự do cho tuổi trẻ, quan trọng hơn, nó còn tự giác ở mức độ nhất định trong việc đi sâu khám phá, thể hiện đời sống riêng tư, đời sống tâm linh phong phú của con người cá nhân, cá thể nhưng không phài không in dấu giai tầng xã hội. Đó chính là một phương diện quý giá mang tính đặc trưng của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học thời này.

Dạy học văn: hãy bắt đầu từ nhan đề tác phẩm


Dạy học văn: hãy bắt đầu từ nhan đề tác phẩm


Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy có nhiều con đường để tiếp cận với những giá trị của tác phẩm, trong đó có một phương pháp khá đơn giản và hữu hiệu là tiếp cận từ chính nhan đề của tác phẩm.  

Nhà thơ Xuân Diệu đã có lần phát biểu đại ý các nhà văn khi đặt tên cho tác phẩm cũng trăn trở như cha mẹ đặt tên cho con. Thật vậy, quá trình sáng tạo cũng “mang nặng đẻ đau”, khi “đứa con tinh thần” ra đời nhà văn cũng có niềm vui sướng, hạnh phúc như người mẹ người cha vừa có thêm một đứa con; rồi “đứa con tinh thần” ấy còn khiến nhà văn phải bận tâm nhiều, chăm chút sau mỗi lần tái bản. Và có “đứa con tinh thần” đem lại cho cha mẹ vinh quang, hạnh phúc, nhưng cũng có không ít nhà văn lao đao khốn khổ vì “đứa con tinh thần” của mình.       
Trong các đề thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng và thi tốt nghiệp THPT cũng đã không ít lần đề cập ý nghĩa nhan đề tác phẩm. Ví dụ: “Giải thích ý nghĩa nhan đề “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành”; “Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao đã mấy lần đổi tên? Ý nghĩa của những tên gọi ấy?”, “Giải thích ý nghĩa nhan đề và lời đề từ bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên…                  
Nhan đề của tác phẩm  là một tín hiệu nghệ thuật quan trọng, nhưng một số GV vẫn còn coi nhẹ, bỏ qua yếu tố này. Chúng tôi trong quá trình giảng dạy luôn lưu ý học sinh tìm hiểu ý nghĩa nhan đề của tác phẩm. Đây là một cách hay để tạo sự chú ý, kích thích hứng thú của các em. Đối với những nhan đề đặc sắc, có ý nghĩa bao quát chủ đề của tác phẩm như “Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Đôi mắt” của Nam Cao, “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, “Bác ơi!” của Tố Hữu..chúng tôi luôn dành một lượng thời gian thích đáng để hướng dẫn học sinh giải  mã. Ngay cả những nhan đề có vẻ bình thường như “Tấm Cám” (truyện cổ tích), chúng tôi cũng tìm ra được thông tin có ý nghĩa. Ví dụ: Tại sao tác giả dân gian lại đặt nhan đề là “Tấm-Cám” chứ không đặt nhan đề “Tấm-Dì ghẻ”? (vì xung đột chủ yếu của tác phẩm là xung đột giữa Tấm và Cám, chứ không phải là Tấm và dì ghẻ); rồi tên Tấm và Cám có ý nghĩa gì? (là cách đặt tên con cái phổ biến của người xưa, đặt tên theo những vật dụng bình thường trong cuộc sống-“cái kèo cái cột thành tên”; tấm và cám đều là sản phẩm từ hạt lúa, hàm ý một người cha sinh ra, song lại khác nhau về chất: tấm đáng quý hơn cám
Như vậy, chỉ một nhan đề có vẻ bình thường đã gợi mở ra bao điều thú vị, sâu sắc.
“Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài) cũng là một nhan đề có vẻ bình thường. Song thực ra không phải là không có gì để khai thác: Mị và A Phủ vốn là những người xa lạ, nhưng do một cảnh ngộ đặc biệt, họ đã đến với nhau và trở thành “Vợ chồng A Phủ”, quá trình trở thành “vợ chồng” của họ là một sự vươn lên từ bóng tối đến ánh sáng; hoàn cảnh đen tối dưới ách áp bức của thống lý Pá Tra khiến họ thành vợ chồng, song chỉ có cách mạng mới đem lại hạnh phúc bền vững cho họ; điều ấy lí giải vì sao cặp vợ chồng ấy đến với cách mạng và trung kiên với cách mạng.                               
Với tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đọc đã mê ngay từ cái nhan đề. Đó là một nỗi niềm, một sự vương vấn, một cảm xúc bâng khuâng…mang một vẻ đẹp đầy chất thơ. Với nỗi niềm mê say ấy, tác giả đã dẫn dắt người đọc đi đến tận cùng của tri thức văn hóa và thẩm mĩ đã tạo nên dòng sông Hương, cái nôi của văn hóa Huế.
“Vợ nhặt” cũng là một nhan đề độc đáo. “Vợ nhặt” nghĩa là gì? Sao tác giả không gọi là “Nhặt vợ”? Cái khác biệt là ở chỗ: “nhặt vợ” là một động từ, còn “vợ nhặt” là một danh từ, chỉ một “loại” vợ (bên cạnh các “loại” vợ khác như: vợ đẹp, vợ trẻ, vợ ở quê…chẳng hạn). Và đọc xong tác phẩm, người đọc mới thấy hết được tính chất vừa hài hước, vừa xót xa, bi thảm trong cái nhan đề ấy.    
Ngay cả cách viết của tác giả đối với từng nhan đề cũng cần được lưu ý. Ví dụ Nguyễn Tuân đã viết hoa chữ “Sông” trong tác phẩm “Người lái đò Sông Đà”, bởi vì theo cách nhìn của ông, sông Đà không chỉ là một con sông bình thường mà đã trở thành một “nhân vật” đặc biệt, có cá tính, phẩm cách riêng; và trong tác phẩm, nhà văn đã nhiều lần sử dụng thủ pháp nhân hóa để xây dựng hình tượng. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng đã viết hoa chữ “Đất Nước”, thể hiện hàm ý tôn kính Tổ quốc thiêng liêng. Đối với những tác phẩm thơ có nhan đề là “Vô đề (“Không đề”) cũng không có nghĩa là không có gì để nói. Thực ra đây là một thủ pháp dùng cái “không” để diễn tả cái “có”, cái vô cùng, một thủ pháp gợi mở tâm tư…Mặt khác nhan đề kiểu này thể hiện tình huống sáng tạo ngẫu nhiên, tức cảnh sinh tình, cũng là một tín hiệu rất đáng lưu ý.                                                                        
Nhan đề tác phẩm cũng phản ánh quan niệm văn hóa, tư tưởng của mỗi thời. Tác phẩm văn học trung đại thường có nhan đề thể hiện thể loại đặc điểm thể loại: “Hịch tướng sĩ văn” (Trần Quốc Tuấn), “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi), “Long thành cầm giả ca” (Nguyễn Du), “Tỳ bà hành” (Bạch Cư Dị)…Có nhiều tác phẩm có chung một nhan đề như “Cảm hoài”, “Thuật hoài” (đều có nghĩa là “tỏ lòng’’), thể hiện tính chất “phi ngã”, “vô ngã” của thi pháp văn học trung đại. Đến thời Thơ mới lãng mạn, nhan đề tác phẩm thể hiện dấu ấn cái Tôi rất rõ nét. Nhiều người đã phân tích chữ “đây” trong các tác phẩm “Đây thôn Vĩ Giạ” của Hàn Mặc Tử và “Đây mùa thu tới” thể hiện cảm hứng mời gọi, dâng hiến, khát vọng giao cảm mãnh liệt…                   
Đối với trường hợp “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng rất đáng chú ý về phương diện nhan đề. Tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân có nhan đề là “Kim Vân Kiều truyện” (truyện về Kim Trọng-Thúy Vân-Thúy Kiều, bị cụ Ngô Đức Kế cho là kém), Nguyễn Du lại đặt cho tác phẩm lục bát thuần Việt của mình một nhan đề Hán Việt là “Đoạn trường tân thanh” (Tiếng kêu mới về những nỗi đau đớn như đứt ruột) nghe rất văn chương, “mùi mẫn”, thể hiện tập trung chủ đề của tác phẩm (Tố Như ơi lệ chảy quanh thân Kiều-Tố Hữu). Một số bản in vẫn lấy nhan đề của Thanh Tâm Tài Nhân. Thế nhưng người dân đã gọi tác phẩm theo một cách khác, rất giản dị là “Truyện Kiều”, hay gọi theo kiểu tối giản là “Kiều” (ngâm Kiều, lẩy Kiều, mê Kiều…) nghĩa là câu chuyện về nàng Kiều, về cô Thúy Kiều, nhân vật trung tâm, sự thể hiện sinh động của một “kiếp đoạn trường”. Hầu như mọi người Việt Nam đều biết đến “Truyện Kiều”, thuộc một vài câu Kiều, nhưng những người biết tác phẩm còn có một cái tên “gốc” Hán Việt  khác, rất “kêu” là “Đoạn trường tân thanh” thì không nhiều. Đây là một trường hợp “vi phạm bản quyền nghiêm trọng”, song có lẽ mọi nhà văn đều muốn tác phẩm của mình bị “vi phạm” như vậy. Bởi với cách “thay bậc đổi ngôi” ấy, tác phẩm của Nguyễn Du đã bất tử trong lòng nhân dân.                              
Trong một số trường hợp, nếu không chú ý đúng mức đến nhan đề sẽ dẫn đến những ngộ nhận không đáng có về nội dung tác phẩm. Ví dụ, tác giả SGK Ngữ văn 12 đã khái quát nhân vật bà Hiền trong truyện ngắn “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải thành một nhân vật tiêu biểu cho Hà Nội ngàn năm văn hiến. Nhưng theo chúng tôi, đó chưa hẳn đã là chủ ý của nhà văn, bởi vì chính nhà văn đã thể hiện quan điểm tiếp cận của mình ở nhan đề “Một người Hà Nội”-một góc nhìn mang tính cá nhân, để suy tư, chiêm nghiệm về một con người bình thường của Hà Nội đã đi qua những chặng thăng trầm của lịch sử đất nước. Rõ ràng với nhan đề ấy, nhà văn không muốn xây dựng nhân vật theo kiểu “điển hình”, “người tốt việc tốt”, trở thành đại diện tiêu biểu cho một cái rất to tát và thiêng liêng là bản sắc văn hóa của thủ đô ngàn năm văn hiến.                                          
Các đồng nghiệp hãy cùng học sinh bắt đầu khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm bằng việc tìm hiểu ý nghĩa nhan đề, có biết bao nhiêu điều thú vị đang chờ đợi.
Trần Quang Đại




.....................................................


Ý NGHĨA NHAN ĐỀ MỘT SỐ TÁC PHẨM (ST)



1. Ý nghĩa nhan đề "Rừng xà nu"
- Ý nghĩa tả thực: chỉ cả một rừng xà nu ở Tây Nguyên với các cây lớn nhỏ, bị thương rồi sau đó quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê.
- Ý nghĩa tượng trưng:  Rừng xà nu là hình ảnh gắn bó máu thịt giữa tác giả và những kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời chiến đấu và viết văn tại chiến trường Tây Nguyên …  Rừng xà nu còn là một biểu tượng cho con người Tây Nguyên anh hùng, mà cụ thể trong tác phẩm là nhân dân làng Xô Man với những con người ưu tú: cụ Mết, Tnú, Dít...  Bức tranh thiên nhiên rừng xà nu thật hùng vĩ với sức sống mãnh liệt, sinh sôi nảy nở không ngừng, bất chấp đại bác tàn phá mỗi ngày. Qua bức tranh thiên nhiên, tác giả muốn khẳng định con người Tây Nguyên vượt qua đau thương, quật khởi theo Đảng làm cách mạng  …Nhan đề Rừng xà nu còn gợi lên chủ đề tác phẩm cũng như cảm hứng sử thi, bi tráng của thiên truyện ngắn đặc sắc này.

2. Ý nhĩa nhan đề “ Chiếc thuyền ngoài xa” 
- Là một ẩn dụ về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật. Đó là chiếc thuyền có thật trong cuộc đời, là không gian sinh sống của gia đình người hàng chài. Cuộc sống gia đình; đông con, khó kiếm ăn, cuộc sống túng quẫn là nguyên nhân làm cho người chồng trở nên cục cằn, thô lỗ và biến vợ thành đối tượng của những trận đòn. Những cảnh tượng đó, những thân phận đó nếu nhìn từ xa, ở ngoài xa thì sẽ không thấy được.
- Phùng đã chụp được chiếc thuyền ngoài xa trong sương sớm - một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích, một chân lí của sự toàn thiện. Chiếc thuyền là biểu tượng của sự toàn mỹ mà chiêm nghiệm nó, anh thấy tâm hồn mình trong ngần. Nhưng khi chiếc thuyền đâm thẳng vào bờ, chứng kiến cảnh đánh đập vợ của người đàn ông kia, anh đã kinh ngạc... và vứt chiếc máy ảnh xuống đất. Anh nhận ra rằng, cái đẹp ở ngoài xa kia cũng ẩn chứa nhiều oái oăm, ngang trái và nghịch lí. Nếu không đến gần thì chẳng bao giờ anh nhận ra. Xa và gần, bên ngoài và sâu thẳm...đó cũng là cách nhìn, cách tiếp cận của nghệ thuật chân chính.

3. Ý nghiã nhan đề "Thuốc"
- Thuốc dùng để chữa bệnh lao theo quan niệm mê muội của người Trung Quốc thời bấy giờ.
- Thuốc còn là hình ảnh để thể hiện nhu cầu chữa căn bệnh mê muội, tê liệt của người Trung Quốc.
- Thuốc còn là thứ thuốc chữa căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng  tiên phong
à Phanh phui căn bệnh tinh thần ở mọi người, lưu ý họ tìm phương thuốc  để chữa căn bệnh tinh thần ấy cho quốc dân.

4. Ý nghĩa nhan đề  "Vợ nhặt"
Vợ nhặt của Kim Lân là một nhan đề độc đáo. Nhan đề là một danh từ gợi hai khái niệm: người nhặt vợ và người vợ nhặt.
- Ở khái niệm thứ nhất, ta hình dung đến chuyện cưới vợ - nhặt vợ. Theo quan niệm và phong tục truyền thống của dân tộc, việc cưới xin là việc hệ trọng của một đời người, vì thế nó được tiến hành với những nghi lễ trang trọng, thiêng liêng trong sự tham gia chứng kiến của hai bên họ hàng dâu, rể. Vậy mà nhân vật trong truyện – anh cu Tràng lại đi nhặt vợ, đưa một người về làm vợ mà không cưới hỏi. Câu chuyện nhặt vợ của Tràng quả thật đã phản ánh một tình cảnh bi hài, khốn khổ của người dân nghèo trong nạn đói năm 1945. Trong tình cảnh đói khổ, người ta đã không thể cưới vợ, hỏi vợ mà đành nhặt vợ. Một chuyện quan trọng trở thành một chuyện như đùa. Tuy nhiên, cũng chính trong câu chuyện bi hài ấy, người ta lại thấy ánh lên một khát vọng cao đẹp – khát vọng có một tổ ấm gia đình, có một tương lai tốt đẹp hơn.
- Khái niệm thứ hai cho ta liên tưởng đến người được nhặt về làm vợ. Cũng theo quan niệm và phong tục của dân tộc, người con dâu trong nhà là người có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đó là người gánh vác việc gia đình, duy trì nòi giống cho dòng tộc. Có vị trí quan trọng như vậy cho nên người về làm dâu được thách cưới, được đón rước long trọng. Vậy mà người đàn bà trong truyện lại theo không Tràng về làm vợ chỉ sau hai ba bận tầm phơ tầm phào, sau bốn bát bánh đúc và lời “rủ rê”: Hay đằng ấy về với tớ một nhà cho vui! Thế mới thấm thía cái thân phận rẻ rúng, bi đát của con người trong thời buổi đói khát. Có thể, người đàn bà theo không về làm vợ người ta kia ban đầu cũng chỉ nghĩ đến một chốn nương thân để tránh cảnh đói khát, không nhà. Nhưng đằng sau quyết định ấy có lẽ là ý nghĩ có vợ có chồng sẽ giúp con người dễ dàng vượt qua cơn hoạn nạn hơn.
Một nhan đề gợi những ý nghĩa sâu xa như vậy là một nhan đề độc đáo, thành công!

 …Để hiểu một tác phẩm chúng ta phải giải mã nhan đề của nó. Không hiểu nhan đề Vợ nhặt đến trước hay sau khi Kim Lân hoàn thành tác phẩm nhưng đó là một nhan đề độc đáo.
Trước hết, nhan đề Vợ nhặt có sức khêu gợi sự chú ý của người đọc. Theo Kim Lân, vợ nhặt là vợ theo không, không cưới xin, lễ nghĩa gì cả. Đây là nhan đề ít nhiều hàm chứa chất hài hước nhưng ngẫm kỹ lại nói lên những điều thật sâu xa về thân phận bọt bèo, rẻ rúng của con người. Xưa nay, lấy vợ lấy chồng là một việc nghiêm túc. Nhưng ở Vợ nhặt, vợ không phải cưới xin mà nhặt được như nhặt một vật dụng tầm thường.
Tính chất bất thường của câu chuyện gắn với nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu. Chính trong bối cảnh nạn đói, Tràng đã nhặt được thị. Người con gái đến với Tràng chỉ có một cái tên chung là "thị"nghĩa là một trong số hàng vạn người đói khát đang phiêu bạt khắp nơi. Ở thị, cái đói đã tàn phá hình hài và tâm tính, phơi bày một ham muốn trần tục là được ăn. Vì thế, chỉ cần Tràng đồng ý là thị làm một lèo bốn bát bánh đúc chẳng chuyện trò gì... Cái cách ăn của thị gợi nhớ đến nhân vật bà lão trong Một bữa no của Nam Cao. Kim Lân đã chọn được một chi tiết đặc sắc để miêu tả sự hủy diệt của cái đói đối với nhân cách con người. Rồi thị theo Tràng về nhà sau lời rủ rê đùa cợt. Tất cả chỉ vì đói.
Dõi theo quá trình nên vợ, nên chồng của họ ta hiểu vì sao tác phẩm mang nhan đề Vợ nhặt. Câu chuyện tình của họ không mang màu sắc lãng mạn như những câu chuyện tình mà văn chương miêu tả. Cái hiện thực phũ phàng của khung cảnh đã tiêu diệt chất thơ vốn có của mọi cuộc tình. Thị đến với Tràng chỉ vì một ham muốn trần tục là được ăn.
Tính chất vợ nhặt càng rõ hơn lúc thị theo Tràng về nhà. Nam Cao đã miêu tả một đám cưới tưởng như tận cùng của sự đói nghèo - một đám cưới với những bộ cánh nâu vá víu bạc phếch (Một đám cưới - Nam Cao). Kim Lân miêu tả một đám cưới chỉ có hai người. Đêm tân hôn chỉ khác ngày thường có hai hào dầu thắp sáng. Chừng ấy chi tiết, đám cưới đã thật bi thảm. Nhưng càng bi thảm hơn khi trong đêm tân hôn tiếng hờ người chết vọng vào tận trong buồng cưới lúc nhỏ, lúc to. Cái ranh giới giữa sự sống và cái chết thật mong manh.
Tuy nhiên, như một nhà nghiên cứu đã nhận xét, nhặt thì không vinh dự gì chứ vợ thì vinh dự. Chính tư cách người vợ đã trả lại cho thị sự sống, nhân cách, nhân phẩm khiến Tràng cũng phải ngạc nhiên. Chính thị là người đã đem lại cho Tràng niềm hạnh phúc. Còn bà cụ Tứ thì gương mặt vốn bủng beo, u ám cũng trở nên rạng rỡ khác thường. Cũng chính thị là người nói đến Việt Minh phá kho thóc Nhật chia cho người đói khiến Tràng thấy "ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ" khi bỏ qua một dịp may.
Như vậy, Vợ nhặt là một nhan đề hàm súc. Nó có ý nghĩa tố cáo xã hội đã gây ra nạn đói hủy diệt con người. Mặt khác, nhan đề ấy cũng nói lên rằng, trong hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc sống, trên ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, con người vẫn hướng về sự sống, về hạnh phúc, tương lai. Tình yêu thương, khát vọng hạnh phúc vẫn mạnh hơn cái chết. Đó là ý nghĩa sâu sắc của nhan đề Vợ nhặt.      (Đỗ Em)

5. Ý nghĩa nhan đề "Ai đã đặt tên cho dòng sông?"
  - "Ai đã đặt tên cho dòng sông ?" - một câu hỏi tu từ mà nội dung của bài kí chính là câu trả lời hoàn chỉnh nhất. Vẻ đẹp, chất thơ của dòng sông khiến nó mang cái tên thật đẹp, thật ý nghĩa.
  - Đây là một nhan đề độc đáo, ấn tượng và hấp dẫn. Niềm băn khoăn trở thành cái cớ để nhà văn miêu tả, ca ngợi và bộc lộ niềm tự hào về vẻ đẹp của dòng sông gắn liền với cố đô Huế. Nhan đề đã hé mở chủ đề tác phẩm : sự ngưỡng mộ, trân trọng, ngợi ca của tác giả với dòng sông và thành phố Huế thân yêu. Phải chăng vì quá ngưỡng mộ, yêu quý và tự hào mà bật lên thành câu hỏi? Hay đó còn là niềm biết ơn của tác giả cũng như bậc hậu thế đối với những người khai phá vùng đất này.
  - Đây cũng là sự nhấn mạnh để người đọc chú ý đến cái tên đẹp và ý nghĩa của dòng sông, từ đó tìm hiểu và thêm phần yêu mến, gắn bó hơn với dòng sông. Tên của dòng sông giống như tên của người con gái, để trả lời cho câu hỏi ấy, tác giả đã lý giải bằng cả một huyền thoại tuyệt vời.
  - Cảm hứng chủ đạo là ngợi ca, tự hào, sự biết ơn của mình mà Hoàng Phủ Ngọc Tường đã sáng tạo thành công thiên bút kí.  "Vì sông Hương là hóa thân của huyền thoại nên câu hỏi bâng khuâng ở cuối bài vẫn là câu hỏi lửng lơ chưa có lời giải đáp. Câu hỏi thành tên cho một thiên bút kí tuyệt vời," (Lê Uyển Văn)


Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012


Nét đẹp đoạn thơ Kim Trọng trở lại vườn Thúy  
- Phạm Ngọc Diệp 
"Giống như ngọn lửa bốc lên từ những cành cây khô, tài năng bắt nguồn từ những tình cảm mạnh mẽ của con người. Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ cười trong sáng hay những giọt nước mắt cay đắng" (Raxum Gamatốp). Thơ ca văn chương, cũng như nghệ thuật nói chung đều bắt nguồn từ tấm lòng và tài năng của người nghệ sĩ. Trái tim tràn đầy tình yêu thương chứng kiến nhiều cuộc "thay đổi sơn hà", trải qua "nhiều cuộc bể dâu" và tài năng vĩ đại của đại thi hào Nguyễn Du là hai cánh chim nâng người lên những giây phút xuất thần viết nên thiên truyện Kiều bất tử, viết nên những dòng thơ cảnh cũ người xưa ngậm ngùi nhớ nhung đau xót tinh tế khi "Kim Trọng trở lại vườn Thúy", như có máu rỏ đầu ngọn bút nước mắt thấm trang giấy.

Tình yêu giữa Thúy Kiều "sắc sảo mặn mà" - Kim trọng"đề huề lưng túi gió trăng" là mối tình say đắm trong sáng, thanh khiết thiết tha. Kim Kiều - đôi trai tài gái sắc tự nguyện đến với nhau với trái tim nồng cháy - trải qua những phút giây hạnh phúc thơ ngây:

Người quốc sắc, kẻ thiên tài
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e


Kim Kiều có những kỷ niệm êm đềm khó quên ở vườn Thúy, nơi sau này Kim Trọng trở lại ....

Trở lại nơi hẹn ước xưa kia, Kim Trọng bồi hồi sau:

Từ ngày muôn dặm phù tang
Nửa năm ở đất liêu Dương tại nhà


Thi hào Nguyễn Du viết nên những câu thơ xuất phát từ cách nhìn cách cảm của chàng Kim. Đất Liêu Dương đã xa lại càng trở nên xa xôi cách trở hơn khi gợi lên một không gian mênh mông rộng lớn "muôn dặm phù tang". Thời gian Kim Trọng xa Thúy Kiều cũng mới có nửa năm nhưng với chàng Kim thì dài dặc "từ ngày muôn dặm..." Rõ ràng cả thời gian và không gian ở đây đều được cảm nhận qua tâm trạng bồn chồn nôn nóng khao khát gặp lại người yêu của chàng Kim. Niềm khao khát gặp mặt người yêu của chàng trai trẻ tất yếu dẫn đến thái độ:

Vội sang vườn Thúy dò la

Bao bồn chồn lo lắng dồn nén ở từ "vội "! Dường như Kim Trọng có cái gì đó rất nghịch lý: "vội có nghĩa là gấp gáp háo hức ngược với "dò la" có nghĩa là chậm chạp thận trọng. Hai hành động tưởng chừng như mâu thuẫn ấy thực ra lại rất thống nhất, xuất phát từ một trái tim phấp phỏng, lo âu. Phải chăng linh tính đã báo cho chàng Kim biết điều gì đó bất bình thường xảy ra với người mình yêu. Tiếc thay linh tính chẳng lành ấy trở thành sự thực:

Nhìn xem phong cảnh nay đà khác xưa

Chỉ nửa năm trước đây thôi, nơi này rực rỡ tươi sáng trong những ngày đầu Kim Kiều hội ngộ. Nơi đây hai người đã sống những giây phút tuyệt vời nhất của mối tình đầu trong trắng thanh cao. Họ từng tình tự, thề nguyền dưới ánh minh nguyệt và chia ly chính ở đây. Bởi vậy khi trở lại vườn Thúy, chàng Kim trở lại với những kỷ niệm của mối tình say đắm, thiết tha... Kim Trọng chính là người tình trở lại nơi tình tự.

Cảm nhận đầu tiên của Kim Trọng là nhà cửa vườn tược gia đình Thúy Kiều đã hoàn toàn đổi khác. Tất cả đều hoang vắng điêu tàn:

Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
Song trăng quạnh quẽ , vách mưa rã rời
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông


Cảnh vật hiện lên hoang tàn, đổ nát. Nơi đây xưa kia đầm ấm như vậy, bây giờ đã là nơi ngự trị của cỏ cây, gai góc, chim muông. Không khí lạnh lẽo u ám "lặng ngắt như tờ" bao trùm lên cảnh vật: song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời, cỏ mọc lau thưa, gai góc mọc đầy. Không gian vắng lặng đến mức có thể nghe thấy tiếng động rất nhỏ của những con chim én. Giờ đây, chàng Kim đứng trước một vườn xuân, cũng có cánh én, cũng có đầy gió xuân, cũng có cả hoa đào mùa xuân - hoa của tình yêu, nhưng khu vườn thật thiếu sinh khí. Từng đàn én tự do chao cánh một cách hoang dại ở độ cao rất thấp. Vì thiếu bóng người nên chúng không còn biết sợ hãi là gì "xập xè én liệng tầng không". Cánh én giờ đây khác xa với "cánh én đưa thoi" ngày nào. Vườn tược hoang phế, nhà cửa cũng tiêu điều làm sao! Những song cửa không có người đóng, mở để mặc cho ánh trăng quạnh quẽ chiếu vào. Mưa gió phũ phàng nên tường vách rã rời. Như vậy chỉ qua một vài chi tiết, Nguyễn Du đã dựng lên một cảnh tượng hoang phế, tiêu điều, vừa cụ thể, vừa sinh động.

Dưới đôi mắt chàng Kim, cảnh vật như chết lặng thấm thía nỗi đau đáu thất vọng. Vì là người tình trở lại nơi tình tự nên mỗi ngọn cỏ lá cây đều đánh thức ở Kim Trọng những kỷ niệm khó quên. Vẫn cảnh đấy mà người thì vắng bóng! Kim Trọng bâng quơ tự hỏi: cảnh đó người đâu... chàng lặng đi trong trường suy tư....

Tuy nhiên, trong cảnh hoang tàn đổ nát, con mắt Kim Trọng; không, tấm lòng Kim Trọng vẫn tìm thấy, vẫn hiện ra dấu vết của cảnh vật con người và kỷ niệm cũ ngày xưa. Đôi mắt chàng Kim cứ mỗi lần nhìn vào cảnh nào, cảnh ấy lại sững sờ nhận ra một dấu vết về mối tình đầu trong sáng rạo rực:

Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông


Tất cả cảnh vật "nay đã khác xưa", đều đã đổi thay, nhưng chỉ có một vật không đổi, đó là cây hoa đào. Nguyến Du đã tập cổ tứ thơ Thôi Hộ với một tinh thần đầy sáng tạo:

Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiấu đông phong


(Đê đô Thành nam trang)

Nghĩa là:

Giờ đây, gương mặt người năm ngoái không biết đi đâu
Chỉ còn hoa đào vẫn cười trước gió đông như cũ.

Đại thi hào Nguyễn Du tập cổ từ hai câu thơ ấy mà sáng tạo nên:

Trước sau nào có bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông


Hoa đào trong thơ Thôi Hộ gợi nhớ về quá khứ, còn hoa đào trong thơ Nguyễn Du chính là sự hiện diện của quá khứ, của kỷ niệm. Câu thơ của thi nhân, vì thế, thể hiện sâu sắc hơn tâm trạng của chàng Kim trong cảnh này. Hoa đào là hình ảnh tượng trưng cho mùa xuân, cho tình yêu. Hoa đào với chàng Kim còn gợi nhớ đến Kiều, đến kỷ niệm:

Dưới đào dường có bóng người thướt tha

Chàng bồi hồi nhớ lại buổi chàng thoáng thấy bóng Kiều dưới cây đào và việc ngẫu nhiên chàng bắt được cành kim thoa của nàg năm trước. Như vậy cây đào là một nhân chứng, đồng thời là khung cảnh làn nền cho mối tình đầu của Kim Kiều. Sự hiện diện của bông "hoa đào năm ngoái" tươi thắm rực rỡ đối lập gay gắt với cảnh hiện tại, là một nghịch cảnh trớ trêu, làm tăng thêm tính bi kịch của một người đang trong tâm trạng tìm kiếm tuyệt vọng.

Không chỉ gặp bông hoa đào năm ngoái , chàng Kim còn nhận ra dấu chân của nàg Kiều:

Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày

Biết bao yêu thương trân trọng của chàng Kim đưọc gửi gắm trong một từ "phong". Dấu giày của nàng Kiều đưọc rêu nâng niu nhẹ nhàng, giữ lại một cách đầy trân trọng. Và từ dấu giày ấy , Kim trọng nhận ra lối cũ nàng Kiều vẫn đi về , hình dung ra cả bước chân và hình bóng của nàng:

Đi về này những lối này năm xưa

Chính tình yêu thương tha thiết Thúy Kiều của Km Trọng, đã làm cho những kỷ niệm cũ sống lại xiết bao cảm động. Kỷ niệm trỗi dậy trong trái tim ngập tràn yêu thương của chàng trai trẻ. Lớp bụi thời gian không làm mờ đi hình ảnh của Thúy Kiều, ngược lại, nó làm đậm nét thêm hình ảnh của nàg trong tâm khảm Kim Trọng. Chữ "này" trong khẩu ngữ hằng ngày đưọc dùng lại hai lần trong câu thơ tám chữ khắc học thêm tâm trạng đau đớn chua xót của chàng Kim trước "cảnh đấy người đâu".

Cuối tường gai góc mọc đầy

"Gai góc mọc đầy" là sự thật phũ phàng, còn "cuối tường" lại ít nhiều gợi lên dĩ vãng tươi đẹp - dĩ vãng kỷ niệm đôi lứa:

Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng

Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường


Tất cả vườn, cỏ, song, vách, hoa đào, bức tường ... đều có sưc khơi gợi sâu xa; vì nó gắn bó với kỷ niệm cũ của mối tình nồng cháy say đắm thiết tha. Lửa lòng chàng Kim đang rực cháy. Thời gian và cảnh vật... Tất cả... tất cả đã đổi thay, duy chỉ có tình yêu dằm thắm thủy chung son sắc của chàng Kim là không hề thay đổi. Chính trong tâm trạng tột cùng đau xót khi không sao tìm thấy người yêu xưa, đã bật lên trong lòng chàng Kim một tiếng nói nội tâm, một tiếng lòng xiết bao đau đớn, tuyệt vọng:

Chung quanh lặng ngắt như tờ
Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?


Tóm lại, sử dụng thi đề "cảnh đấy người đâu". Với thái độ cảm thông và trân trọng đối với tình yêu đôi lứa, Nguyễn Du đã thể hiện một cách sâu sắc tâm trạng người tình tìm đến nơi tình tự. Đoạn thơ có nội dung trữ tình hoài cổ, có sức lay động xâu xa đối với nhiều thế hệ độc giả. Ít nhiều nó đánh thức người đọc những kỷ niệm một đi không trở lại, khiến họ có tình cảm bồi hồi xao xuyến.

Trên xứ sở của giấy trắng mực đen, nổi lên một tiếng lòng bất tử của một con người vĩ đại - người ấy mang tên: Nguyễn Du.